Hiển thị các bài đăng có nhãn nhựa đường Shell 60/70. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhựa đường Shell 60/70. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Công nghệ thi công láng nhựa trên mặt đường nhựa.


1. Giới thiệu chung
- Láng nhựa là tạo nên một lớp mỏng bề dày không quá 3-4 cm bằng cách tưới nhựa trên từng lớp trên bề mặt rồi rải đá lèn ép. Tùy theo số lần tưới nhựa mà có thể phân thành 3 loại.
- Láng nhựa 1 lớp, 2 lớp, 3 lớp. Có bề dày lần lượt 1-1,5cm, 1.5-2 cm,2.5-3cm. Do bề dày khá mỏng nên lớp nhựa không làm tăng được cường độ chung của kết cấu áo đường, nên xem lớp lángn nhựa không chịu lực.
- Tác dụng chính của lớp láng nhựa để chống lại sự hao mòn của bánh xe, tăng cường khả năng chống trơn trượt và phòng nước thấm, tăng độ bằng phẳng, cải thiện điều kiện  xe chạy
- Láng nhựa có thể sử dụng được từ 2 –6 năm.

2. Nội dung và qui trình kỹ thuật công nghệ:

2.1 Công tác chuẩn bị:
- Công tác chuẩn bị bao gồm: chuẩn bị vật liệu, làm sạch mặt đáy lớp, và lên khuôn đường, sửa sang sao cho lớp này phù hợp với các yêu cầu về độ vững chắc, độ sạch, cao độ, độ dốc ngang.
- Trước khi đem nhựa ra sử dụng phải tiến hành đun nóng nhựa. Quy định của quy trình VN về đun nhựa như sau: với nhựa bitum có độ kim lún 40/90 nhiệt độ đun tốt nhất 1400C không qúa 1800C, thời gian đun nhựa không quá 3h, dùng đến đâu đun đến đó, không dược dùng nhựa đã đun, đun lại để dùng.
- Nấu nhựa: nhựa được đổ vào nồi nấu không qúa 1/3 chiều cao để tránh nhựa trào ra, tốn nhựa. Nồi nhựa phải kê chắc chắn, chọn hướng gió để khỏi không tạt vào công nhân hoặc nhân dân đi lại. Nên che chắn bếp để tránh tổn thất nhiệt độ. Nấu nhựa còn dùng các thùng nấu di động, nấu bằng dầu, mỗi lần nấu có thể nấu một tấn nhựa. Ngoài ra có thể láng nhũ tương (nhựa nguội) thay cho nhựa nóng.

2.2 Láng nhựa trên mặt đường đá dăm mới thi công xong:

2.2.1. Láng nhựa trên mặt đường đá dăm mới thi công xong
- Mặt đường đá dăm lu lèn đến giai đoạn 3 nhưng không tưới nước và không rải cát chèn để chuẩn bị láng nhựa. Trước khi láng nhựa phải làm sạch mặt đường, cày bỏ hết các đám đất hoặc đám bột đá, làm cho lộ kẽ đá ra.
- Rải nhựa nóng với tiêu chuẩn 3 – 3.5kg/m2.
- Rải đá, sỏi 10- 20 với tiêu chuẩn 18- 201m2 phủ kín mặt nhựa vừa rải
- Lu lèn ép bằng lu 6-8 tấn đi qua 6-8 lượt / điểm ngay sau khi rải đá.

2.2.2. Láng nhựa 2 lớp trên mặt đường đá dăm mới thi công xong
- Sau khi đã lu lèn xong lớp nhựa - đá, sỏi 10 – 20 lần thứ nhất, rải nhựa lớp thứ 2 theo tiêu chuẩn 2-2.5 kg/m2.
- Rải đá, sỏi 5-10 theo tiêu chuẩn 12-151/m2  phủ kín mặt  nhựa mới rải
- Lu lèn ép bằng lu 6-8 tấn đi qua 6-8 lượt / điểm ngay sau khi rải đá, sỏi 5-10.
- Lu lèn ép bằng lu 6-8 tấn qua 4-6 lượt / điểm ngay sau khi đá, sỏi 5-10

2.3 Láng nhựa trên mặt đường đã sử dụng trên một thời gian
- Vá ổ gà và sửa lại mui luyện mặt đường cũ cho thật bằng phẳng trước khi rải nhựa.
- Làm sạch mặt đường bằng chổi quét hoặc thổi khi ép, cố gắng tránh làm bong mặt đá trong khi làm công tác này.
- Rải nhựa nóng với tiêu chuẩn 2.5- 3kg/m2
- Rải đá, sỏi 10-20 phủ kín mặt đường theo tiêu chuẩn 15 –181/ m2
- Lu lèn ép bằng lu 6-8 tấn đi qua 6-8 lượt / điểm ngay sau khi rải đá 10-20

2.4 Láng nhựa trên mặt đường cấp phối và sỏi ong:

2.4.1. Đối với mặt đường cũ:
- Mặt đường đã sử dụng một thời gian phải kiểm tra và độ bằng phẳng. Nếu mặt đường đã bị hao mòn nhiều, phải tiến hành xào xới lại bù phụ thêm vật liệu mới và lu lèn ép theo đúng quy định của quy trình kỹ thuật thi công mặt đường cấp phối và sỏi ong.

2.4.2. Đối với mặt đường mới thi công xong
- Để chuẩn bị cho việc láng nhựa mặt đường cấp phối và sỏi ong mới thi công không rải lớp bảo vệ.
- Láng nhựa 2-3 lớp trên mặt đường cấp phối và sỏi ong tiến hành như quy định cho mặt đường đá dăm đã sử dụng một thời gian, phải xử lý mặt đường tước khi láng nhựa để nhựa dính bám tốt với mặt đường
- Có thể xử lý mặt đường để tăng cường dính bám với nhựa theo hai cách:
+ Phun đều một lớp dầu mazut, dầu hỏa hoặc dầu creosote  theo tiêu chuẩn 0.2- 0.3kg/m2  
+ Rải một lớp nhựa pha với 15-20% dầu mazut, dầu hỏa hoặc dầu creosote  theo tiêu chuẩn 0.8- 1kg/m2  
- Để cho se mặt 5–10 phút rồi thi công lớp láng mặt như qui định cho mặt đường lớp đá dăm và sử dụng một thời gian.
- Riêng với lớp nhựa thứ nhất, khi xử lý mặt đường bằng nhựa pha dầu để tăng cường độ dính bám, thì tiêu chuẩn nhựa là 1.5-2 kg/m2
- Khi rải nhựa thì rải dọc theo tim đường, rải từ tim đường dịch ra 2 mép mặt đường (trên đường thẳng) trải từ lưng xuống bụng (nếu trong đường cong có siêu cao)
- Khi lu thì lu từ hai mép dịch vào tim (trên đường thẳng), từ bụng trên lưng (nếu trong đường cong có siêu cao)
- Nếu láng nhựa bằng nhũ tương thì lưọng nhũ tương sẽ gấp đôi lượng nựa nóng và được chia làm nhiều lần hơn  vì nhũ tuơng có 50-60 % trọng lượng là nước).

3. Các chú ý khi thi công mặt đường láng nhựa và  thấm nhập  nhựa:
- Các công đoạn cần được tiếp nối chặt chẽ không để một khâu nào đứt đoạn.
- Đoạn đường thi công trong ngày phải hoàn thành trong ngày đó
không được rải nhựa khi đá ẩm ướt hoặc lớp đáy ẩm ướt (nếu dùng nhựa nóng).
- Khi gặp mưa phải đợi đá khô mới tiếp tục thi công
- Lượng nhựa sử dụng phải khống chế chặt chẽ, đầm nén phải ở mức thích hợp, để tránh việc làm đầm nén không đủ làm ảnh hưởnng đến việc chèn đá con hoặc đầm nén quá nhiều làm vỡ đá gây ảnh hưởng đến khả năng thấp nhập nhựa.
- Trong năm nên chọn mùa khô và tương đối nắng để thi công.

4. Hoàn thiện nghiệm thu và bảo dưỡng:

4.1 Hoàn thiện lề đường và rãnh dọc
- Mặt đường nhựa chỉ được coi là thi công xong khi lề đã làmtheo đúng yêu cầu của thiết kế về bề rộng và độ dốc ngang.
- Đối với đường mới thi công, độ chặt của lề đường phải đạt tối thiểu K= 0.90 trong phạm vi độ sâu 1.20 m kể từ trên mặt. Đối với đường cũ đại tu mặt đường phải đảm bảo độ chặt của đất lề đường K=0.90 ít nhất tới độ sâu 0.30 m kể từ mặt đường.
- Trường hợp phải làm rãnh dọc, phải thực hiện đúng yêu cầu của thiết kế về bán kính kích  thước hình học và độ dốc, để đảm bảo thoát nước.

4.2 Quy định về sai số cho phép:
- Những sai số cho phép qui định sau có mục đích chiếu cố những sai sót nhỏ trong quá trình thi công, vì vậy chỉ được áp dụng khi nghiệm thu. Trong quá trình thi công, phải thực hiện đúng yêu cầu của thiết kế, không được phép dựa vào các sai số cho phép mà thi công thay đổi, châm chước thiết kế.
- Các sai số cho phép qui định như sau:
* Về yếu tố hình học:
- Sai số cho phép về chiều rộng mặt đường  +(-)10 cm
- Sai số cho phép về chiều dày mặt đường +(-)10 %
- Sai số cho phép về độ dốc ngang lề đường và mặt đường +(-)5% của trị số thiết kế.
- Độ bằng phẳng thử bằng thước 3 m, khe hở không quá 7mm.
* Về cường độ mặt đưòng:
Mô đuyn biến dạng mặt đường phải đạt hoặc vượt mô đuyn biến dạngthiết kế. E thực tế >(=) E  thiết kế
* Phương pháp kiểm tra:
- Chiều rộng mặt đường kiểm tra 10 mặt cắt ngang trong 1km
- Chiều dày mặt đường kiêm rtra 3 mặt cắt ngang trong 1cm, ở mỗi mặt cát ngang kiểm tra 3 điểm ở tim đường và ở 2 bên cách mép đường 1m
- Độ băng phẳng: Kiểm tra 3 vị trí trong 1 km, ở mỗi vị trí đặt thước 3m dọc tim đường và 2 bên cách mép đường 1m, đo khe hở giữa mặt đường và cạnh dưới của thước, cách tường 50 cm một điểm đo.
- Cường độ mặt đường kiểm tra phương pháp ép tĩnh, chùy rơi chấn động
- Đơn giản hơn là dùng cần Benkenman.
* Bảo dưởng mặt đường:
- Trên các mặt đường nhựa đang thi công, chỉ có các lọai xe bánh lốp đi qua và có tốc độ hạn chế 5km/h sau khi đã rải lớp đá, sỏi 10-20 hoặc 5-10 trên mặt nhựa.
- Chỉ cho phép các loại xe bánh đai sắt đi qua lại sau khi mặt đường đã ổn định hình thành đủ cường độ.
- Trong vòng 48 giờ kể từ khi thi công xong, xe chạy phải hạn chế tốc độ không quá 20km/h.

- Sau khi làm xong, mặt đường nhựa phải được chăm sóc bảo dưỡng trong 10 ngày, cu thể là pải quét vôi vào  trong mặt đường những đá, sỏi bị xe chạy làm té sang bên lề và có biện pháp điều chỉnh cho xe chạy đều khắp mặt đường. Sau đó tiếp tục bảo dưỡng như qui định về công tác duy tu bảo dưỡng đường. 

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2015

Thi công mặt đường láng nhựa


1. Khái niệm cơ bản
-Phun tưới một  lớp nhựa trên bề mặt rồi rải một lớp vật liệu đá và lu lèn thành một lớp mmỏng thì gọi là láng nhựa một lớp. Lặp lại quá trình trên hai hoặc ba lần thì được mặt đường láng nhựa hai hoặc ba lớp.
-Lớp láng mặt bằng nhựa và đá con có thể dùng cho mọi loại đường làm  mới hay cũ. Nó có tác dụng làm giảm bớt độ bào mòn của mặt đường nâng cao độ nhám, giữ mặt đường không để nước mặt thấm xuống và nâng cao điều kiện vệ sinh.
-Thông thường, không làm mặt đường láng nhựa trên bê tông nhựa hạt nhỏ và BTXM làm mới.
Chiều dày lớp láng mặt thường không quá 4cm. Trên mặt đường cấp cao thường làm lớp láng mặt dày 1.0-2.5 cm. Trên mặt đường giản đơn dùng 2 hay ba lớp láng dày 2,5-4,0 cm.
-Chiều dày lớp láng nhựa không tính vào chiều dày chịu lực khi tính toán kết cấu áo đường, tuổi thọ của nóp lấy 3-6 năm.
2. Yêu cầu về chất lượng vật liệu
1-Đá dăm: Cốt liệu trong mặt đường láng nhựa làm việc theo nguyên lý đá chèn đá, đá dăm làm mặt đường láng nhựa phảI đồng nhất về cường độ, kích cỡ cho mỗi lần rải
Yêu cầu về chỉ tiêu cơ lý đối với đá dăm (đá sỏi) dùng làm mặt đường láng nhựa Bảng 3-5
Yêu cầu về chỉ tiêu cơ lý đối với đá dăm (đá sỏi) dùng làm mặt đường láng nhựa
Loại đá
Độ màI mòn Los Angeles
% theo 22TCN 250-98
Độ dính bám với nhựa
hoặc nhũ tương
Mac ma
<30
Đạt từ cấp 3 trở lên
PP A.Lư-xi-khi-na
Trầm tích, biến chất
<40
-Lượng hạt dẹt (theo % trọng lượng) phảI không lớn hơn 5%
Lượng bụi sét (theo % trọng lượng) không lớn hơn 1%, lượng sét dạng cục không quá 0,25%
-Hạt có cỡ lớn hơn D+3cm, hạt nhỏ quá cỡ 0,63 d không vượt quá 3% theo khối lượng
Cõ đá dùng theo bảng 3-6.
Bảng 3-6
Kích cỡ đá dùng cho láng nhựa (Theo 22TCN 258-98)
Cỡ đá (d/D)
Cỡ hạt (sàng vuông), mm
Ghi  chú
Nằm lại trên sàng (d)
Lọt qua sàng (D)
10/14
10
14
Đẻ tính đổi sang sàng tròn thì phảI nhân với hệ số 1,25
6/10
6
10
4/6
4
6
2/4
2
4
2-Nhựa đặc, nhũ tương
-Dùng nhựa đặc 40/60 hoặc 60/70 chế biến từ dầu mỏ hoặc nhũ tương gốc a xit phân tách nhanh
-Các chỉ tiêu yêu cầu với nhựa đặc (Bảng…)
Nhũ tương bi tum gốc a-xít phân tách nhanh có hàm lượng 60-69% chế tạo từ nhựa 60/70, các chỉ tiêu yêu cầu xem bảng
3. Yêu cầu về công nghệ thi công
1-Yêu cầu về thiết bị thi công
-Phải có thiết bị làm vệ sinh mặt đường: Máy nén khí, thiết bị vệ sinh,, xe phun nước (thi công trên đường cũ)
-Phải có thiết bị nấu nhựa chuyên dùng (tránh ô hiễm môi trường)
-Thiết bị phun, tưới nhũ tương (nếu dùng nhũ tương)
-Khi thi công với khối lượng lớn, phải sử dụng thiết bị chuyên dùng để thi công như xe đun, tưới nhựa đặc tự hành., xe tưới nhũ tương, xe rải đá.
-Phải có lu lốp tải trọng mỗi bánh 1,5-2,5 T (nếu không có lu lốp cho phép dùng lu bánh thép 8T).
2-Yêu cầu đối với công tác chuẩn bị móng:
-Các lớp móng, mặt đường chuẩn bị thi công lớp láng mặt phải đảm bảo đủ cường độ, đúng mui luyện, bằng phẳng. Phải xử lý triệt để các hư hỏng trên đường cũ như ổ gầ, bù vênh, rạn nứt..
-Móng và mặt mới thoi công xong phải đảm bảo đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật đối với mặt và móng đó.
-Bề mặt phải sạch. Khi dùng nhũ tương đảm bảo không bị đọng nước ở các kẽ đá mặt đường, khi dùng nhựa bề mặt phải khô ráo
-Với mặt đường đá dăm nước phải rải đá nhỏ chén bớt khe hở đá cơ bản (tiêu chuẩn 8l/m2)
-Với móng cấp phối đá dăm phải tưới nhũ tương phân tách chậm (chỉ số phân tách >120%) khoảng 2-2,5 kg/m2để tăng cường dính bám.
-Trường hợp mặt đường cũ có quá nhiều bụi bẩn có thể tưới 0,5-0,8 l/m2 để phủ bụi và tăng cường dính bám.
3-Yêu cầu đối với công tác thi công.
-Khi dùng nhựa đặc để làm lớp láng mặt, nhựa phải đun đến nhiệt độ thi công. Tất nhất là 140oC và không quá 180oC với nhựa 40/60 và 60/70. Thời gian đun nhựa không quá 3 giờ. Nhiệt độ khi tưới không thấp hơn 120oC.
-Khi dùng nhũ tương phân tách nhanh, váo mùa đông nên hâm nhựa đến 50-80oC đẻ có độ linh động.
Nhựa, nhũ tương phải được phun đề trên bề mặt, liều  lượng theo chỉ dẫn kỹ thuật. Lưu ý tại các vị trí xe bắt đầu chạy hoặc dừng lại.
-Nếu dùng nhựa đặc nóng sau khi tưới phải rải ngay lượng đá theo quy định, tốt nhất dùng xe chuyên dụng vừa tưới nhựa vừa rải đá sau đó tiến hành lu lèn ngay.
-Nếu dùng nhũ tương phân tách nhanh và tưới bằng thủ công hoặc bán thủ công thì nên rải độ 30-50% tổng lượng đá cần thiết lên mặt đường rồi tưới lượng nhũ tương yêu cầu. Nhất là phải thi công trên các đoạn đường có độ dốc lớn.
-Khi lu lèn không được để đá vỡ quá nhiều, nên dùng lu bánh lốp để lu.. Những chỗ đá dập nát quá nhiều cần gạt bỏ, thay đá khác và chọn loại lu thích hợp.
-Đối với kết cấu láng nhựa hai, ba lớp việc lu lèn chỉ tiến hành khi rải đủ các lớp.
4. Yêu cầu về vật liệu đá, nhựa cho mặt đường láng nhựa (Bảng 3-7)
5-Yêu cầu công tác bảo dưỡng:
Phải hạn chế và điều chỉnh xe chạy đều khắp trên mặt đường tốc độ không quá 20km/h trong 1 đến hai tuần. Bố trí nhân công quét đá con, sỏi sạn bị tung ra hai bên lề vào lại mặt đường, bổ sung những chỗ thiếu nhựa hoặc rải đá 2/4 hay 4/6mm vào các vị trí nổi nhựa nhiều.
Bảng 3-7
Hình thức láng nhựa
Thứ tự lần rải đá, tưới nhựa
Kích cỡ đá, mm
Lượng nhựa, kg/m2
Lượng đá, l/m2
Trên mặt đường đá dăm vừa thi công xong
Lần 1
10-20
3-3,5
18-20
Trên mặt đường đá dăm đã sử dung một thời gian
Lần 1
10-20
2.5-3.0
15-18
Láng hai lớp trên mặt đường đá dăm
Lần 1
10-20
2.5-3.0
15-18
Lần 2
10-20
2.0-2.5
12-15
Láng ba lớp trên mặt đường đá dăm
Lần 1
10-20
2.5-3.0
15-18
Lần 2
10-20
2.0-2.5
12-15
Lần 3
5-10
1.5-2.0
10-12
Láng trên mặt đường bị bạc đầu
Lần 1
5-10
1.5
10-12

4. Yêu cầu về công tác kiểm tra
1-Yêu cầu kiểm tra trong quá trình thi công tham khảo bảng 3-8
2-Mặt đường láng nhựa sau khi thi công xong:
-Sau thi công 15 ngày, yêu cầu công tác kiểm tra mặt đường láng nhựa.


Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Không nên dùng cát tự nhiên trong bê tông nhựa

Để ngăn chặn, xử lý tình trạng hằn lún vệt bánh xe (HLVBX) cần áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp cấp bách trong quá trình thiết kế, thi công bê tông nhựa.

                                      Thi công đường sử dụng cát tự nhiên độ lún tăng thêm 30%

Đầu tiên, các đơn vị thi công phải loại bỏ bụi thu hồi (kết quả nghiên cứu đã được kiểm chứng, đồng thời Bộ GTVT đã có văn bản chỉ đạo các trạm trộn không sử dụng bụi thu hồi). Qua khảo sát thực tế, các trạm trộn đã sử dụng lọc bụi ướt hoặc cắt bỏ đường hồi bụi (lọc bụi khô) nhưng việc hút bụi bẩn này phụ thuộc vào tốc độ của quạt hút, mức độ bẩn của cốt liệu sử dụng. Do đó, các đơn vị thi công không nên nghiền vật liệu ở thời điểm vật liệu đá bị ướt, dính bụi bẩn. Cùng với đó, thông qua thí nghiệm sàng để xác định lượng hạt <0,075 mm nhằm kiểm soát lượng bụi còn lại trên trạm. 
Cùng mỏ vật liệu nhưng quá trình khai thác và nghiền vật liệu ở thời tiết mưa và không mưa cho chất lượng khác nhau. Nguyên nhân khi khai thác và nghiền vật liệu vào trời mưa những hạt bụi bẩn bám chặt vào đá trong quá trình sàng. Trong khi chưa có công nghệ làm sạch hoặc giải pháp để rửa đá thì giải pháp trước mắt là không nghiền sàng đá khi đá bị ướt bẩn.
Các đơn vị không nên sử dụng cát tự nhiên để chế tạo bê tông nhựa bởi đây là loại vật liệu có nhiều nhược điểm như: Hạt tròn không sắc cạnh, có lẫn nhiều tạp chất, bụi bùn sét bất thường không kiểm soát được… Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khi sử dụng cát tự nhiên thì khả năng kháng hằn lún kém đi khoảng 30%.

Đặc biệt, trong công tác kiểm soát tại trạm trộn, nhóm chuyên gia của Trường ĐH GTVT đã có nghiên cứu chuyên sâu về cấu tạo cũng như tính năng hoạt động của trạm trộn và đưa ra giải pháp kiểm tra, kiểm soát hệ thống sàng trên trạm. “Việc làm này phải được tiến hành trước ca thi công và sau khi thi công. Ngoài ra trong lúc lấy mẫu thí nghiệm căn cứ vào thành phần hạt của các bin có thể phán đoán trạm bị hư hỏng bộ phận sàng. Ngoài ra phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng dầu FO, đầu đốt, các bộ phận kiểm soát nhiệt, hệ số cân để khẳng định độ chính xác”.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Đề xuất sử dụng bê tông nhựa polymer để chống hằn lún?

Chủ đầu tư và các nhà thầu dự án tăng cường kết cấu mặt đường QL1, đoạn tuyến tránh TP Hà Tĩnh đặt quyết tâm đẩy nhanh tiến độ thi công đưa dự án về đích trong tháng 8, chào mừng 70 năm Ngày truyền thống ngành GTVT.

Thưởng nóng kích cầu tiến độ
Những ngày đầu tháng 6, trên công trường tuyến tránh TP. Hà Tĩnh, hàng trăm kỹ sư, công nhân các đơn vị vẫn gồng mình làm việc trong điều kiện thời tiết nắng nóng kỷ lục. Tại Km 12+400 đoạn qua xã Cẩm Bình, mũi thi công số 1 của Công ty TNHH Hòa Hiệp, kỹ sư Lê Thanh Hùng, Chỉ huy trưởng công trường cho biết: Trời nắng nóng khắc nghiệt nhưng vì tiến độ chung của dự án, chúng tôi vẫn huy động 100% kỹ sư, công nhân tham gia thi công, có ngày đến 50 kỹ sư, công nhân tay nghề cao, triển khai đồng loạt bốn mũi thi công ba ca liên tục. Đến ngày 1/6, đơn vị đã vượt 30% khối lượng công việc theo biểu đồ tiến độ chủ đầu tư đề ra.
Bên cạnh đó, việc theo dõi tiến độ cũng được triển khai thường xuyên. Ngay tại nhà điều hành và các phòng sinh hoạt tập thể của công nhân, nhà thầu Hòa Hiệp đều cho dán thông báo bản giao chỉ tiêu tiến độ, trong đó có kèm quy định về mức thưởng cho đội thi công vượt tiến độ nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng và phạt đội thi công không đảm bảo tiến độ đề ra. “Định mức 1.200m3 base/tuần, 1.300 tấn thảm BTN/tuần là cao nhưng đã có hai đội đạt thưởng, với số tiền là 20 triệu đồng”,  kỹ sư Hùng cho biết.
Tại các mũi thi công của Công ty Cổ phần 484 và Công ty CP Tân Hưng, gần 80% chiều dài tuyến đã được thảm bê tông nhựa lớp 1 cả hai chiều đường. Dự kiến đến 1/7 các nhà thầu sẽ bước sang giai đoạn thảm bê tông nhựa lớp trên và thi công hệ thống đảm bảo ATGT, phấn đấu trong tháng 8 sẽ đưa toàn bộ tuyến đường vào khai thác.

Kiến nghị dùng Polymer chống hằn lún bánh xe
Ông Vũ Đình Minh, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Hạ tầng Sông Đà (đại diện chủ đầu tư) cho biết:  “Ngoài quy định, tiêu chuẩn hiện hành, chúng tôi xây dựng hệ thống quản lý chất lượng nội bộ, hệ thống kiểm soát quản lý chất lượng của nhà thầu và TVGS. Tất cả vật liệu trước khi đưa về bãi tập kết phải được kiểm tra, thí nghiệm, vật liệu cho kết quả đạt yêu cầu mới được đưa vào ủ trộn, phục vụ thi công. Sau từng công đoạn thi công của nhà thầu, chủ đầu tư, TVGS đã có những biện pháp kiểm soát chất lượng độc lập, đảm bảo tất cả các hạng mục sau khi hoàn thành đều đạt tiêu chuẩn đề ra”.
                                                   Thi công nhựa đường Polyme

                                                       Thi công nhựa đường Polyme

                                                      Thi công nhựa đường Polyme trên QL1

Một yếu tố khác là dự án phải thực hiện trong điều kiện “vừa thi công, vừa khai thác”. “Các nhà thầu trên tuyến không được làm đại trà mà phải chia mũi, phân đoạn thi công theo từng 300m đường rồi tổ chức rào chắn điều tiết giao thông. Bên trái làm, bên phải phương tiện vẫn lưu thông bình thường”, ông Hùng cho hay. 
                                             Nhà thầu phân làn giao thông khi thi công
Ngoài ra, phía chủ đầu tư cũng cắt cử riêng một đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác ATGT và vệ sinh môi trường theo dõi giám sát quá trình tổ chức của các nhà thầu 24/24h, sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ nhà thầu giải quyết vấn đề phát sinh khi có sự cố xảy ra. Nhờ đó, 5 tháng qua trên toàn tuyến không xảy ra bất cứ vụ ùn tắc, va chạm giao thông nào.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Phải báo cáo ít nhất trước 2 ngày khi thảm bê tông nhựa

Các dự án bảo trì đường bộ, trước khi thi công lớp bê tông nhựa phải báo cáo ít nhất trước 2 ngày.


Tổng cục Đường bộ VN vừa có văn bản yêu cầu các Cục Quản lý đường bộ, các Sở GTVT phải báo cáo Tổng cục ít nhất trước 2 ngày trước khi thi công lớp bê tông nhựa đối với các dự án bảo trì đường bộ có sử dụng bê tông nhựa.
Theo Tổng cục Đường bộ VN, trong thời gian qua chất lượng thi công lớp thảm bê tông nhựa của một số dự án bảo trì đường bộ còn tồn tại nhiều vấn đề .
Để đảm bảo chất lượng công trình đối với các dự án sử dụng Quỹ bảo trì đường bộ Trung ương, Tổng cục đường bộ VN yêu cầu các Cục Quản lý đường bộ, Sở GTVT phải báo cáo Tổng cục ít nhất trước 2 ngày về thời gian dự kiến rải bê tông nhựa, khối lượng thực hiện để Tổng cục có kế hoạch kiểm tra công tác quản lý chất lượng.
Khi triển khai thảm bê tông nhựa, chủ đầu tư dự án sửa chữa phải cử cán bộ kỹ thuật cùng với Tư vấn giám sát (TVGS) chỉ đạo các nhà thầu thực hiện.
Đối với các Cục Quản lý đường bộ, bắt buộc phải có mặt của cán bộ Chi cục Quản lý đường bộ cùng TVGS, Tư vấn quản lý dự án trong quá trình thi công. Công tác thiết kế hỗn hợp bê tông nhựa, bố trí máy móc thiết bị thi công, công tác lu lèn mặt đường và các nội dung khác phải tuân thủ theo đúng yêu cầu quy định.
Trước ngày dự kiến thảm bê tông nhựa phải theo dõi bản tin dự báo thời tiết và thực hiện các nội dung quy định tại Công điện số 44/CĐ-TCĐBVN ngày 4/12/2015 của Tổng cục Đường bộ VN về việc “Tăng cường kiểm soát chất lượng công tác thảm bê tông nhựa đối với dự án bảo trì đường bộ”.

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Hướng dẫn sử dụng Rhinophalt trong bảo trì mặt đường bê tông nhựa

Bộ Giao thông vận tải vừa ban hành Chỉ dẫn tạm thời về kỹ thuật thi công và nghiệm thu lớp vật liệu Rhinophalt trong công tác bảo trì mặt đường bê tông nhựa.
Rhinophalt là hỗn hợp dạng lỏng, với thành phần gồm nhựa đường có nguồn gốc dầu mỏ, dung dịch pha loãng, chất hóa dẻo và Gilsonite. Vật liệu này có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa của nhựa đường và hỗn hợp bê tông nhựa của mặt đường bê tông nhựa. Rhinophalt được sử dụng cho mặt đường bê tông nhựa chặt sử dụng nhựa đường thông thường và nhựa đường polime, mặt đường bê tông nhựa rỗng thoát nước; sử dụng Rhinophalt lần đầu đối với mặt đường đã có thời gian sử dụng từ 2 - 4 năm. Chu kỳ sử dụng Rhinophalt cho các lần tiếp theo là 5 - 6 năm đối với bê tông nhựa chặt, từ 4 - 5 năm đối với mặt đường bê tông nhựa rỗng thoát nước. 
Trong Chỉ dẫn, Bộ Giao thông vận tải nêu rõ, trước khi thi công bảo trì mặt đường bê tông nhựa, phải lập kế hoạch, biện pháp tổ chức thi công để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của quá trình thi công đến quá trình lưu thông trên đường. Nếu có hiện tượng hư hỏng mặt đường thì phải tiến hành sửa chữa tại các vị trí hư hỏng trước khi thi công vật liệu Rhinophalt. Việc sửa chữa phải được thực hiện theo đúng quy định hiện hành áp dụng đối với kết cấu áo đường. 

Đối với việc trám vá các vết nứt trên mặt đường bê tông nhựa, trường hợp mặt đường có các vết nứt lớn hơn 2mm, thì cần phải trám vá các vết nứt bằng vật liệu nhũ tương nhựa đường polime. Trong trường hợp bề mặt đường có bụi bẩn, phải làm sạch bề mặt trước khi thi công lớp Rhinophalt. Và để tránh bị làm bẩn do việc thi công Rhinophalt gây ra, cần sử dụng các loại vật liệu phù hợp để che phủ lên các bộ phận, kết cấu trên đường như đá vỉa hè đường, các dải phân cách, các cọc tiêu hoặc các cọc của dải phân cách mềm… Trường hợp yêu cầu không sơn lại các vạch sơn trên đường cũng phải tiến hành che phủ các vạch sơn trước khi phun vật liệu Rhinophalt.

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

Giải pháp công nghệ trong quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa


Viện Khoa học và Công nghệ GTVT vừa tổ chức “Hội nghị Tập huấn phổ biến các giải pháp công nghệ trong quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa và xây dựng, cải tạo, nâng cấp cầu ở Việt Nam”. Hội nghị đã thu hút hơn 200 nhà quản lý, kỹ sư tại các Sở GTVT, Ban Quản lý dự án, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát, Nhà thầu thi công tại khu vực Miền Bắc.

Tiếp theo thành công của Hội nghị tập huấn tại khu vực Miền Trung và Phía Nam, Viện Khoa học và Công nghệ GTVT vừa  tổ chức Hội nghị Tập huấn phổ biến các giải pháp công nghệ trong quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa và xây dựng, cải tạo, nâng cấp cầu ở Miền Bắc (Hà Nội).

Hội nghị nhằm phổ biến và cung cấp cho các học viên đang công tác tại các Ban quản lý dự án, các tổ chức tư vấn, các đơn vị thi công xây dựng công trình giao thông, các phòng thí nghiệm, kiểm định Khu vực Miền Bắc trong việc nâng cao chất lượng thiết kế, thi công bê tông nhựa (BTN).

Đặc biệt là các giải pháp nhằm hạn chế hư hỏng vệt bánh xe trên các tuyến đường bộ; Triển khai thực hiện Thông tư số 27/2014/TT-BGTVT và các văn bản chỉ đạo khác về quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa và tăng cường cầu yếu của Bộ GTVT trong thời gian vừa qua; Kỹ thuật trong công tác khảo sát thí nghiệm, kiểm định,  thiết kế gia cường và thi công các cầu yếu trên toàn tuyến QL1 và đường Hồ Chí Minh; Thiết kế và thi công cầu treo dân sinh đảm bảo ATGT…

Hội nghị đã thu hút hơn 200 nhà quản lý, kỹ sư tại các Sở GTVT, Ban Quản lý dự án, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát, Nhà thầu thi công tại khu vực Miền Bắc. Chỉ đạo lớp tập huấn có lãnh đạo Viện, nhiều giảng viên là các Phó giáo sư, các chuyên gia của Viện cùng sự tham dự của đông đảo các các kỹ sư tư vấn, thí nghiệm viên...tại các đơn vị và văn phòng hiện trường của Viện Khoa học và Công nghệ GTVT – đang làm việc ở khu vực Miền Bắc.

Hội nghị tập huấn được tổ chức trong 2 ngày 16 và 17/10. Ngoài các nội dung giảng dạy, các giảng viên và học viên đã có thời gian trao đổi, thảo luận và giải đáp những vướng mắc, khó khăn trong thực tế khi áp dụng các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa và xây dựng, cải tạo, nâng cấp cầu ở Việt Nam...

Thứ Năm, 23 tháng 7, 2015

Nhựa đường Iran 60/70 và Shell 60/70

Trasmeco chuyên cung cấp cấp các sản phẩm nhựa đường phục vụ quá trình thi công đường bộ tại Việt Nam.

Nhựa đường đặc đóng thùng IRAN 60/70 được đóng trong phuy, trọng lượng từ 180 kg net/phuy (sai số ± 1 kg net/phuy 190kg) đến 185 kg net/phuy (sai số ± 1 kgnet /phuy 195kg)

Nhựa đường IRAN 60/70 do Công ty TNHH MTV Nhựa đường TRANSMECO nhập khẩu và phân phối đảm bảo còn nguyên nhãn mác hàng hóa; các thùng nhựa không bị thủng, rò rỉ; đảm bảo đủ trọng lượng theo SGS; đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật theo Chỉ thị 13/CT-BGTVT ngày 08/08/2013 của Bộ trưởng Bộ GTVT về việc tăng cường công tác quản lý chất lượng vật liệu nhựa đường sử dụng trong xây dựng công trình giao thông.
Công ty cổ phần thiết bị giao thông Transmeco nhập khẩu và phân phối các sản phẩm nhựa đường: Iran 60/70, Shell 60/70 trong thi công đường bộ,ngoài ra chúng tôi còn cung cấp các sản phẩm:

Nhũ tương nhựa đường: crs-1, crs-2, css-1, css-1h

Thiết bị máy công trình: máy lu, xúc, ủi, cần cẩu....

Cung cấp Bê tông tươi tận chân công trình.
Quý Công ty có nhu cầu báo giá và đặt hàng nhựa đường IRAN 60/70, xin vui lòng liên hệ:

Công ty TNHH Một thành viên Nhựa đường Transmeco

Địa chỉ: 162 Khuất Duy Tiến – Thanh Xuân – Hà Nội
Đt: 0907 0906 87

Kho Nhựa đường Transmeco

Địa chỉ: Khu CN Nam Cầu Kiền - Xã Kiền Bái - Huyện Thủy Nguyên Hải Phòng






Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Bê tông nhựa rỗng làm lớp mặt cho các tuyến cao tốc và mặt đường ôtô cấp cao ở Việt Nam

Việc sử dụng vật liệu bê tông nhựa lớp tạo nhám làm lớp mặt đường cho các tuyến cao tốc hay mặt đường cấp cao là hết sức có ý nghĩa và cần thiết. Nó đảm bảo đặc trưng yêu cầu kỹ thuật cao cho xe chạy với tốc độ cao, giảm thiểu những rủi ro tai nạn tiềm ẩn trên đường do yếu tố đường bộ.

1. Đặt vấn đề
Theo Quyết định số 140/QĐ-TTg ngày 21/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chi tiết đường bộ cao tốc Bắc Nam phía Đông, nối từ Hà Nội đến Cần Thơ (là một bộ phận của mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 1734/QĐ-TTg ngày 01/12/2008) sẽ xây dựng 18 tuyến cao tốc, chiều dài 1.811km.
Đường cao tốc cho phép xe chạy với tốc độ trên 80km/h – tốc độ như vậy để đảm bảo an toàn xe chạy, mặt đường yêu cầu phải đạt được chất lượng khai thác cao như: Độ nhám cao, độ bằng phẳng, độ ráo nước, trong đó bê tông nhựa lớp mặt đường tạo nhám là một yếu tố đặc biệt quan trọng.
Ở Việt Nam, tiêu chuẩn bê tông nhựa lớp tạo nhám đã ban hành ứng dụng xây dựng như: Lớp mặt đường Novachip cho tuyến cao tốc Sài Gòn – Trung Lương, bê tông nhựa theo tiêu chuẩn 22TCN 345-06 cho tuyến cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Dây. Trong khuôn khổ bài báo, tác giả đề cập thêm một loại vật liệu khác, đó là bê tông nhựa lớp tạo nhám cấp phối hở Open Graded Friction Courses Asphalt (OGFCA) là loại bê tông nhựa có độ rỗng dư cao (16÷18%), đã được nghiên cứu cụ thể với qui định các đặc trưng kỹ thuật giới hạn nhằm góp phần làm phong phú và đa dạng vật liệu bê tông tạo nhám hiện nay tại Việt Nam.
2. Bê tông nhựa lớp tạo nhám OGFCA
2.1. Khái niệm
Bê tông nhựa tạo nhám cấp phối hở được thế giới gọi tên với những thuật ngữ khác nhau như: Porous Asphalt (PA), Porous Friction Course (PFC), Open Graded Asphalt Concrete (OGAC), Open Graded Friction Course (OGFC).
2.2. Đặc điểm
- Giảm sự bắn nước và bụi nước sau bánh xe khi trời mưa to (Hình 2.1);
- Giảm sự phản chiếu ánh sáng và độ chói đèn pha và ban đêm;
- Giảm tiếng ồn khi xe chạy;
- Tăng ma sát mặt đường và bánh xe, chống trơn trượt tối đa trên mặt đường;
- Hạn chế vệt hằn lún bánh xe.
                                                                

                                             Hình 2.1: Bê tông nhựa rỗng thoát nước
2.3. Tình hình sử dụng vật liệu OGFCA ở các nước trên thế giới
- Ở Mỹ: Trung tâm quốc gia công nghệ Asphalt của Mỹ – NCAT (National Center For Asphalt Technology – Mỹ), Bang Washington có tiêu chuẩn cấp phối cho OGFCA với các cỡ hạt dmax = 9,5mm; 12,5mm và 25mm và các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu. Chiều dày lớp OGFCA không tính vào chiều dày tính toán kết cấu áo đường.
Kinh nghiệm sử dụng kết cấu: Lớp OGFCA chiều dày từ 4÷5cm, độ rỗng dư Va = 22%÷ 25% trên lớp BTN chặt (Hình 2.2). Nước thấm từ trên lớp mặt qua lớp BTN rỗng xuống dưới và chảy ra hệ thống thoát nước dọc, làm mặt đường luôn khô ráo.
                                                                   


Bảng 2.1. Tổng hợp các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu vật liệu OGFCA ở các bang của Mỹ
                                                   
               
                Hình 2.2: Đường cong cấp phối cốt liệu và cấu tạo kết cấu cho OGFCA
- Ở châu Âu: Đan Mạch, Hà Lan, Úc, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh, Ý, Tây Ban Nha… là những quốc gia sử dụng nhiều vật liệu OGFCA cho các tuyến cao tốc từ những năm 1980. Vật liệu OGFCA thiết kế độ rỗng dư Va ³ 22%; ứng dụng chủ yếu nhằm cải thiện ATGT ở các vùng có nhiều mưa (giảm bắn nước và bụi nước), giảm tiếng ồn trên đường. Nhựa sử dụng: Bitum thông thường 60/70 + SBS hoặc 60/70 + EVA (etylene vinyl acetate), Bitum polime: 80/100 + SBS hoặc 80/100 + EVA, phụ gia sợi tổng hợp, bột cao su. Tiêu chuẩn kỹ thuật yêu cầu dựa trên tiêu chuẩn của Mỹ.
- Ở Úc, Nam Phi, châu Á: Các nước Nhật, Hàn Quốc hay Ấn Độ cũng đã sử dụng vật liệu OGFCA làm lớp mặt đường trên tuyến cao tốc. Các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu giống tiêu chuẩn của Mỹ và châu Âu.
2.4. Tình hình sử dụng bê tông nhựa lớp tạo nhám ở Việt Nam
Hiện nay tại Việt Nam, vật liệu bê tông nhựa lớp tạo nhám đã được sử dụng gồm có:
- Bê tông nhựa lớp tạo nhám theo công nghệ Novachip
Lớp phủ mỏng dùng công nghệ Novachip làm lớp tạo nhám trên tuyến cao tốc Sài Gòn – Trung Lương (Tiền Giang), chiều dày lớp Novachip từ 1,25 ÷ 2,5cm, lớp vật liệu này không tính vào chịu lực của kết cấu áo đường và yêu cầu kỹ thuật vật liệu cho lớp Novachip như Bảng 2.2.
                                                    


Bảng 2.2. Yêu cầu về các chỉ tiêu kỹ thuật của BTN Novachip
- Bê tông nhựa có độ nhám cao (BTNNC) theo 22TCN 345-06

Bảng 2.3. Yêu cầu các chỉ tiêu kỹ thuật của BTNNC
Nhận xét: Ở Việt Nam, vật liệu bê tông nhựa lớp tạo nhám, cấp phối cốt liệu sử dụng là cấp phối gián đoạn (Gap Graded) và sử dụng nhựa đường polime. Các loại mặt đường tạo nhám gồm có lớp bê tông nhựa theo công nghệ Novachip chiều dày từ 1,25÷2,5cm, không yêu cầu độ rỗng dư thiết kế; lớp phủ mỏng bê tông nhựa có độ nhám cao (theo 22TCN345-06) chiều dày từ 2÷3cm, độ rỗng dư thiết kế Va = 12÷16%. Hầu hết các lớp vật liệu tạo nhám này không tính vào chiều dày tính toán kết cấu áo đường và khả năng thoát nước lượng mưa lớn từ mặt đường còn hạn chế dễ bị ảnh hưởng an toàn chạy xe trên các tuyến cao tốc.
3. Đề xuất bê tông nhựa lớp tạo nhám cấp phối hở tại Việt Nam
3.1. Đề xuất thành phần cấp phối
Từ kinh nghiệm các nước trên thế giới đã sử dụng, tác giả đề xuất thành phần vật liệu OGFCA tại Việt Nam có các đặc điểm sau:
Cỡ hạt lớn nhất Dmax của vật liệu OGFCA ở Việt Nam là 9,5mm và kích cỡ mắt sàng vuông nghiên cứu cấp phối là: 9,5; 4,75; 2,36 và 0,075mm.


Bảng 3.1. Cấp phối vật liệu OGFCA đề xuất nghiên cứu tại Việt Nam
Cấp phối vật liệu OGFCA đề xuất nghiên cứu tại Việt Nam


Bảng 3.2. Đề xuất các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu cho OGFCA
Đề xuất các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu cho OGFCA
3.2. Lựa chọn thành phần vật liệu cho hỗn hợp


Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả kiểm tra đặc trưng cơ – lý của vật liệu nghiên cứu
Tổng hợp kết quả kiểm tra đặc trưng cơ – lý của vật liệu nghiên cứu
3.3. Kết quả thí nghiệm nghiên cứu trong phòng
Nghiên cứu được tiến hành trong phòng thí nghiệm với 10 chỉ tiêu, bao gồm 03 chỉ tiêu được đề nghị trong hệ thống của EN, 5 chỉ tiêu Marshall theo hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam và 02 thí nghiệm đề nghị bổ sung để kiểm tra độ nhám và cường độ kháng lún vệt bánh. Số lượng mẫu thí nghiệm tiến hành cho mỗi chỉ tiêu là 03 mẫu/chỉ tiêu.
Bảng 3.4. Tổng hợp kết quả nghiên cứu các đặc trưng kỹ thuật của OGFCA


Tổng hợp kết quả nghiên cứu các đặc trưng kỹ thuật của OGFCA
4. Kết luận và kiến nghị
4.1. Kết luận
Việc ứng dụng vật liệu OGFCA là loại vật liệu mới của tác giả đề xuất làm mặt đường cho các tuyến cao tốc và mặt đường cấp cao trong tình hình hiện nay là hết sức có ý nghĩa thực tế. Với nguồn vật liệu trong nước hoàn toàn có thể chế tạo được loại bê tông nhựa rỗng OGFCA, đáp ứng được các chỉ tiêu kỹ thuật theo tiêu chuẩn của châu Âu (EN), đáp ứng chỉ tiêu kỹ thuật theo hệ thống của Việt Nam với lớp bê tông nhựa mỏng tạo nhám để sử dụng làm lớp mặt cho đường cao tốc và đường cấp cao của Việt Nam.
Ngoài ý nghĩa về đặc trưng kỹ thuật khai thác làm lớp mặt đường thì lớp OGFCA còn là lớp chịu lực, có thể đưa vào tính toán chiều dày chung của kết cấu áo đường nhằm làm giảm thiểu tối đa kinh phí xây dựng đường ô tô.
4.2. Kiến nghị
- Lựa chọn thành phần cốt liệu khi sử dụng với các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu cho thiết kế thành phần OGFCA là hết sức quan trọng; kiểm tra đánh giá thận trọng cốt liệu, loại bitum cải tiến.
- Thử nghiệm hiện trường vật liệu OGFCA nhằm giám sát và kiểm tra định kỳ các đặc tính kỹ thuật khai thác, từ đó có thể đối chứng với vật liệu bê tông nhựa tạo nhám theo công nghệ Novachip và bê tông nhựa tạo nhám cao theo 22TCN 345-06 hiện đã được sử dụng, qua đó để sử dụng trong thực tế và kiến nghị cho lộ trình tiến tới để sử dụng bao gồm xây dựng và theo dõi đoạn thử nghiệm áp dụng làm lớp mặt đường trên các tuyến cao tốc và đường ô tô cấp cao hiện nay tại Việt Nam.