Hiển thị các bài đăng có nhãn nhựa đường Shell 200kg. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn nhựa đường Shell 200kg. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 8 tháng 9, 2015

VỀ VIỆC TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG VẬT LIỆU NHỰA ĐƯỜNG SỬ DỤNG TRONG XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH GIAO THÔNG

Trong thời gian gần đây, tại nhiều vị trí trên một số tuyến đường bộ đã xuất hiện chất lượng lớp mặt bê tông nhựa không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, gây hư hỏng mặt đường, dẫn tới tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn giao thông, tốn kinh phí và thời gian sửa chữa, tạo dư luận không tốt trong xã hội.
Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do sử dụng các loại nhựa đường kém chất lượng, không đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu theo quy định.
Nhựa đường (bitum) là loại vật liệu quan trọng trong xây dựng mặt đường bộ, chất lượng của nhựa đường quyết định đến chất lượng của mặt đường nhựa. Hiện nay, Việt Nam chưa sản xuất được nhựa đường mà phải nhập khẩu 100%từ nước ngoài với số lượng khoảng trên 500.000 tấn/năm, chủ yếu bao gồm loại nhựa đường đặc đóng phuy (nhựa đường phuy) và nhựa đường đặc nóng (nhựa bồn).
Do là loại vật liệu chính yếu, được sử dụng trong xây dựng đường mặt đường bộ trong nhiều năm qua, nên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn cho quản lý chất lượng nhựa đường đã được Bộ Giao thông vận tải và các Bộ, Ngành liên quan ban hành cơ bản đầy đủ, chặt chẽ từ khâu nhập khẩu, tồn trữ, phân phối, vận chuyển và sử dụng vào công trình.
Tuy nhiên trong thực tế thời gian qua, việc kiểm soát các quy định về quản lý chất lượng nhựa đường chưa được thực hiện đầy đủ và nghiêm ngặt.
Đã có những biểu hiện thiếu minh bạch, thậm chí có gian lận thương mại, quảng cáo hoặc thể hiện trên hợp đồng mua bán nhựa đường hoặc in nhãn mác trên bao bì đối với nhựa đường phuy, xuất xứ từ một nước, nhưng thực tế nhập từ nhiều nước khác nhau. Việc vận chuyển nhựa đường đến công trình cũng chưa được quản lý chặt chẽ, đã xảy ra hiện tượng một số đối tượng xấu lợi dụng bổ sung một số chất không phù hợp vào nhựa đường để gian lận khối lượng, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng nhựa đường. Một số nhà thầu đã tồn chứa và sử dụng nhựa đường của nhiều công ty cung ứng nhựa đường trong cùng một bồn tại trạm trộn, cùng một thời gian thi công, gây khó khăn cho việc giám sát chất lượng.
Để khắc phục những tồn tại và yếu kém trên, nhằm kiên quyết loại bỏ các loại nhựa đường kém chất lượng ra khỏi công trường để đảm bảo chất lượng công trình giao thông, Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải yêu cầu các cơ quan, đơn vị trong ngành GTVT, các Sở GTVT, các đơn vị tham gia dự án xây dựng công trình giao thông kịp thời hướng dẫn và đưa vào hợp đồng, thỏa thuận, cam kết với các công ty nhập khẩu, cung ứng vật liệu nhựa đường nghiêm túc thực hiện các quy định sau:
1. Về hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan
Các loại nhựa đường nhập khẩu phải có các chỉ tiêu kỹ thuật đáp ứng yêu cầu quy định tại tiêu chuẩn TCVN 7493:2005 " Bi tum - Yêu cầu kỹ thuật".
Nhựa đường nhập khẩu phải được phòng thí nghiệm mang mã số LAS-XD (có đủ năng lực thực hiện 10 chỉ tiêu thí nghiệm đối với nhựa đường theo quy định tại tiêu chuẩn TCVN 7493:2005) tiến hành thử nghiệm với các nội dung sau:
- Phương pháp và số lượng mẫu nhựa để thí nghiệm tuân thủ theo tiêu chuẩn TCVN 7494:2005"Bi tum - Phương pháp lấy mẫu".
- Phương pháp thí nghiệm: tuân thủ các tiêu chuẩn từ TCVN 7495:2005 đến TCVN 7504:2005.
- Các chỉ tiêu thí nghiệm phải thỏa mãn yêu cầu quy định tại tiêu chuẩn TCVN 7493:2005 "Bi tum - Yêu cầu kỹ thuật".
2. Đối với các đơn vị nhập khẩu và cung ứng nhựa đường phục vụ công trình giao thông
2.1. Về năng lực: phải có đầy đủ năng lực, kinh nghiệm, hệ thống quản lý chất lượng và hệ thống kho bãi, bồn chứa, phương tiện vận chuyển và các quy trình nhập khẩu, tồn trữ, bảo quản và vận chuyển nhựa đường.
2.2. Về nhập khẩu:
- Chỉ được phép nhập khẩu các lô hàng nhựa đường có chất lượng và các chỉ tiêu kỹ thuật nhựa đường đáp ứng yêu cầu quy định tại tiêu chuẩn kỹ thuật nhựa đường nêu trên.
Để phù hợp với đặc điểm thời tiết, khí hậu của Việt Nam, các đơn vị nhập khẩu chỉ được nhập loại nhựa có mác theo độ kim lún 40-50 và 60-70 theo tiêu chuẩn TCVN 7493:2005 "Bi tum - Yêu cầu kỹ thuật", Đối với các loại nhựa đường có độ kim lún lớn hơn 70 phải được Bộ Giao thông vận tải chấp thuận bằng văn bản.
- Có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho các cơ quan, đơn vị liên quan (chủ đầu tư, tư vấn giám sát, nhà thầu) bản sao có chứng thực còn hiệu lực: Giấy chứng nhận nguồn gốc xuất xứ hàng hóa của nước xuất khẩu; Giấy kiểm định chất lượng tại nước xuất khẩu (do một đơn vị kiểm định độc lập phát hành) và Chứng chỉ phân tích chất lượng (trong đó có phiếu thí nghiệm 10 chỉ tiêu kỹ thuật đáp ứng yêu cầu quy định tại tiêu chuẩn TCVN 7493:2005 "Bi tum - Yêu cầu kỹ thuật" do phòng thí nghiệm mang mã số LAS-XD thực hiện).
2.3. Về tồn trữ và bảo quản nhựa đường:
- Đối với nhựa đường bồn: Có hệ thống bồn chứa, hệ thống gia nhiệt, hệ thống cân và các quy trình vận hành và kiểm soát chất lượng.
Việc trộn lẫn các loại nhựa đường từ các lô nhập khẩu khác nhau phải được thể hiện trong nhật ký bảo quản nhựa đường và phải được lấy mẫu thí nghiệm đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định. Không tồn trữ các loại nhựa đường của các nhà cung ứng khác nhau chung cùng một bồn chứa.
- Đối với nhựa đường phuy: Nhựa đường phuy phải được bảo quản trong nhà hoặc khu vực có mái che và có biện pháp để các thùng nhựa không bị thủng, rò rỉ nhựa đường để đảm bảo vệ sinh môi trường, tránh bị suy giảm về khối lượng và chất lượng nhựa đường.
2.4. Về vận chuyển:
- Đối với nhựa đường bồn: Các công ty cung ứng nhựa đường phải tăng cường các biện pháp kiểm soát trong quá trình vận chuyển nhựa đường: Khuyến khích các xe bồn vận chuyển nhựa đường đặc nóng được lắp đặt thiết bị giám sát hành trình để theo dõi trong và sau hành trình cung ứng. Toàn bộ các họng ra của bồn chứa xe bồn (van mở trên nóc, van xả đáy, vòi bơm v.v….) cần được niêm phong trong suốt quá trình vận chuyển. Niêm phong phải được thiết kế chuyên dụng, có đánh số được các đơn vị cung ứng ghi rõ trên phiếu giao hàng và được các đơn vị sử dụng trực tiếp đối chiếu số niêm phong và mở niêm phong.
- Đối với nhựa đường phuy: Nhựa đường phuy giao cho đơn vị sử dụng phải đảm bảo còn nguyên nhãn mác hàng hóa, các thùng nhựa không bị thủng, rò rỉ nhựa đường, đảm bảo đủ trọng lượng.
2.5. Về nhãn mác:
- Đối với nhựa bồn: Phiếu giao hàng phải ghi rõ đơn vị cung ứng, chủng loại nhựa đường, nhà máy và nước sản xuất nhựa đường.
- Đối với nhựa đường phuy nhập khẩu: Phải có nhãn mác hàng hóa ghi đầy đủ các thông tin như chủng loại nhựa đường, nguồn gốc xuất xứ, trọng lượng tịnh, trọng lượng cả phuy.
- Đối với nhựa đường đặc nóng đóng phuy tại Việt Nam: Cần ghi rõ sản xuất tại Việt Nam, chủng loại nhựa đường, nguồn gốc xuất xứ nhựa đường đặc nóng nhập khẩu để đóng phuy, trọng lượng tịnh, trọng lượng cả phuy.
3. Đối với các đơn vị sử dụng nhựa đường
- Chủ đầu tư, tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu và thí nghiệm hiện trường phải kiểm tra hồ sơ của lô nhựa đường sẽ sử dụng vào công trình (chứng chỉ xuất xứ hàng hóa, chứng chỉ chất lượng có hiệu lực, nhãn mác), trực tiếp kiểm tra năng lực và quy trình nhập khẩu, quản lý chất lượng (nhập khẩu, tồn trữ, bảo quản và vận chuyển) của các đơn vị nhập khẩu và cung ứng, lấy mẫu nhựa đường để thí nghiệm đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định trước và trong quá trình thi công để làm cơ sở chấp thuận lô nhựa đường đưa vào dự án.
- Việc kiểm tra chất lượng nhựa đường trong quá trình thi công phải tuân thủ các quy định của các tiêu chuẩn TCVN 7493:2005 " Bi tum - Yêu cầu kỹ thuật"; TCVN 8818-1:2011 "Nhựa đường lỏng - Yêu cầu kỹ thuật", tiêu chuẩn thi công hiện hành (tương ứng với các lớp kết cấu mặt đường và loại nhựa đường sử dụng) như các tiêu chuẩn TCVN 8819:2011 "Mặt đường bê tông nhựa nóng - Yêu cầu thi công và nghiệm thu" TCVN 8863:2011 "Mặt đường láng nhựa nóng - Thi công và nghiệm thu"; TCVN 8809:2011 "Mặt đường đá dăm thấm nhập nhựa nóng - Thi công và nghiệm thu" v.v…. và Chỉ dẫn kỹ thuật thi công nghiệm thu của dự án.
- Các đơn vị tư vấn giám sát và thí nghiệm tại dự án thường xuyên giám sát và kiểm tra việc cung ứng nhựa đường đúng chủng loại đã được chấp thuận, phối hợp cùng nhà thầu và công ty cung ứng lấy mẫu nhựa đường tại hiện trường để kiểm tra chất lượng nhựa đường theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật đã quy định và lập biên bản xác nhận của đại diện các bên liên quan. Số lượng mẫu nhựa đường phải đảm bảo đủ để thí nghiệm và lưu mẫu. Kịp thời phát hiện và báo cáo chủ đầu tư về các lô nhựa đường không đáp ứng đúng tiêu chuẩn chất lượng theo quy định.
- Các nhà thầu, đơn vị trực tiếp sản xuất bê tông nhựa phải thường xuyên giám sát và kiểm tra việc cung ứng nhựa đường (việc cam kết của nhà cung ứng về chủng loại, nhãn mác, vận chuyển theo đúng quy định phải được thể hiện trong hợp đồng mua bán nhựa đường). Cử nhân viên đảm bảo việc giám sát và nhận nhựa đường: kiểm tra từng niêm phong của xe bồn (đối với nhựa đường đặc nóng), kiểm tra nhãn mác và sự nguyên vẹn với nhựa đường phuy tại cùng thời điểm thi công, hạn chế sử dụng trên hai nhà cung ứng nhựa đường. Không sử dụng nhựa đường của nhà cung ứng khi chưa được chủ đầu tư chấp thuận. Không tồn trữ các loại nhựa đường của các nhà cung ứng khác nhau trong cùng một bồn chứa. Lấy mẫu lưu tất cả các chuyến hàng giao hàng ngày tại công trường. Việc lấy mẫu phải tuân thủ quy định lấy mẫu trong quá trình bơm nhựa (đối với nhựa bồn), trong quá trình xả nhựa từ phuy (đối với nhựa đường phuy) và phải được lập biên bản xác nhận, ký xác nhận trên mẫu nhựa của các bên liên quan. Mẫu lưu phải được lưu trữ và bảo quản ít nhất 03 tháng kể từ khi lấy mẫu nhựa đường để đối chiếu, phân loại và xác định chất lượng nhựa đường của các nhà cung ứng, tại từng thời điểm cụ thể khi có vấn đề về chất lượng bê tông nhựa. Đảm bảo ghi chép đầy đủ việc nhận lô nhựa đường và sản xuất bê tông nhựa đường, lý trình rải bê tông nhựa hàng ngày.
- Chủ đầu tư liên đới chịu trách nhiệm cùng nhà thầu về chất lượng nhựa đường khi đưa vào xây dựng công trình giao thông.
4. Tổ chức thực hiện
a) Thủ trưởng các cơ quan, đơn vị, Chủ đầu tư, Ban QLDA, Tổng công ty, doanh nghiệp thuộc Bộ, các Sở GTVT và các cơ quan, đơn vị, cá nhân có liên quan thực hiện nghiêm túc Chỉ thị này.
b) Giao Vụ Khoa học - Công nghệ chủ trì, phối hợp với Thanh tra Bộ và Cục Quản lý xây dựng và Chất lượng công trình giao thông, thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra, giám sát và xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm về chất lượng nhựa đường trong quá trình cung ứng (nhập khẩu, tồn trữ, vận chuyển) và sử dụng trong xây dựng công trình giao thông theo quy định hiện hành và Chỉ thị này./.

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2015

Công nghệ thi công láng nhựa trên mặt đường nhựa.


1. Giới thiệu chung
- Láng nhựa là tạo nên một lớp mỏng bề dày không quá 3-4 cm bằng cách tưới nhựa trên từng lớp trên bề mặt rồi rải đá lèn ép. Tùy theo số lần tưới nhựa mà có thể phân thành 3 loại.
- Láng nhựa 1 lớp, 2 lớp, 3 lớp. Có bề dày lần lượt 1-1,5cm, 1.5-2 cm,2.5-3cm. Do bề dày khá mỏng nên lớp nhựa không làm tăng được cường độ chung của kết cấu áo đường, nên xem lớp lángn nhựa không chịu lực.
- Tác dụng chính của lớp láng nhựa để chống lại sự hao mòn của bánh xe, tăng cường khả năng chống trơn trượt và phòng nước thấm, tăng độ bằng phẳng, cải thiện điều kiện  xe chạy
- Láng nhựa có thể sử dụng được từ 2 –6 năm.

2. Nội dung và qui trình kỹ thuật công nghệ:

2.1 Công tác chuẩn bị:
- Công tác chuẩn bị bao gồm: chuẩn bị vật liệu, làm sạch mặt đáy lớp, và lên khuôn đường, sửa sang sao cho lớp này phù hợp với các yêu cầu về độ vững chắc, độ sạch, cao độ, độ dốc ngang.
- Trước khi đem nhựa ra sử dụng phải tiến hành đun nóng nhựa. Quy định của quy trình VN về đun nhựa như sau: với nhựa bitum có độ kim lún 40/90 nhiệt độ đun tốt nhất 1400C không qúa 1800C, thời gian đun nhựa không quá 3h, dùng đến đâu đun đến đó, không dược dùng nhựa đã đun, đun lại để dùng.
- Nấu nhựa: nhựa được đổ vào nồi nấu không qúa 1/3 chiều cao để tránh nhựa trào ra, tốn nhựa. Nồi nhựa phải kê chắc chắn, chọn hướng gió để khỏi không tạt vào công nhân hoặc nhân dân đi lại. Nên che chắn bếp để tránh tổn thất nhiệt độ. Nấu nhựa còn dùng các thùng nấu di động, nấu bằng dầu, mỗi lần nấu có thể nấu một tấn nhựa. Ngoài ra có thể láng nhũ tương (nhựa nguội) thay cho nhựa nóng.

2.2 Láng nhựa trên mặt đường đá dăm mới thi công xong:

2.2.1. Láng nhựa trên mặt đường đá dăm mới thi công xong
- Mặt đường đá dăm lu lèn đến giai đoạn 3 nhưng không tưới nước và không rải cát chèn để chuẩn bị láng nhựa. Trước khi láng nhựa phải làm sạch mặt đường, cày bỏ hết các đám đất hoặc đám bột đá, làm cho lộ kẽ đá ra.
- Rải nhựa nóng với tiêu chuẩn 3 – 3.5kg/m2.
- Rải đá, sỏi 10- 20 với tiêu chuẩn 18- 201m2 phủ kín mặt nhựa vừa rải
- Lu lèn ép bằng lu 6-8 tấn đi qua 6-8 lượt / điểm ngay sau khi rải đá.

2.2.2. Láng nhựa 2 lớp trên mặt đường đá dăm mới thi công xong
- Sau khi đã lu lèn xong lớp nhựa - đá, sỏi 10 – 20 lần thứ nhất, rải nhựa lớp thứ 2 theo tiêu chuẩn 2-2.5 kg/m2.
- Rải đá, sỏi 5-10 theo tiêu chuẩn 12-151/m2  phủ kín mặt  nhựa mới rải
- Lu lèn ép bằng lu 6-8 tấn đi qua 6-8 lượt / điểm ngay sau khi rải đá, sỏi 5-10.
- Lu lèn ép bằng lu 6-8 tấn qua 4-6 lượt / điểm ngay sau khi đá, sỏi 5-10

2.3 Láng nhựa trên mặt đường đã sử dụng trên một thời gian
- Vá ổ gà và sửa lại mui luyện mặt đường cũ cho thật bằng phẳng trước khi rải nhựa.
- Làm sạch mặt đường bằng chổi quét hoặc thổi khi ép, cố gắng tránh làm bong mặt đá trong khi làm công tác này.
- Rải nhựa nóng với tiêu chuẩn 2.5- 3kg/m2
- Rải đá, sỏi 10-20 phủ kín mặt đường theo tiêu chuẩn 15 –181/ m2
- Lu lèn ép bằng lu 6-8 tấn đi qua 6-8 lượt / điểm ngay sau khi rải đá 10-20

2.4 Láng nhựa trên mặt đường cấp phối và sỏi ong:

2.4.1. Đối với mặt đường cũ:
- Mặt đường đã sử dụng một thời gian phải kiểm tra và độ bằng phẳng. Nếu mặt đường đã bị hao mòn nhiều, phải tiến hành xào xới lại bù phụ thêm vật liệu mới và lu lèn ép theo đúng quy định của quy trình kỹ thuật thi công mặt đường cấp phối và sỏi ong.

2.4.2. Đối với mặt đường mới thi công xong
- Để chuẩn bị cho việc láng nhựa mặt đường cấp phối và sỏi ong mới thi công không rải lớp bảo vệ.
- Láng nhựa 2-3 lớp trên mặt đường cấp phối và sỏi ong tiến hành như quy định cho mặt đường đá dăm đã sử dụng một thời gian, phải xử lý mặt đường tước khi láng nhựa để nhựa dính bám tốt với mặt đường
- Có thể xử lý mặt đường để tăng cường dính bám với nhựa theo hai cách:
+ Phun đều một lớp dầu mazut, dầu hỏa hoặc dầu creosote  theo tiêu chuẩn 0.2- 0.3kg/m2  
+ Rải một lớp nhựa pha với 15-20% dầu mazut, dầu hỏa hoặc dầu creosote  theo tiêu chuẩn 0.8- 1kg/m2  
- Để cho se mặt 5–10 phút rồi thi công lớp láng mặt như qui định cho mặt đường lớp đá dăm và sử dụng một thời gian.
- Riêng với lớp nhựa thứ nhất, khi xử lý mặt đường bằng nhựa pha dầu để tăng cường độ dính bám, thì tiêu chuẩn nhựa là 1.5-2 kg/m2
- Khi rải nhựa thì rải dọc theo tim đường, rải từ tim đường dịch ra 2 mép mặt đường (trên đường thẳng) trải từ lưng xuống bụng (nếu trong đường cong có siêu cao)
- Khi lu thì lu từ hai mép dịch vào tim (trên đường thẳng), từ bụng trên lưng (nếu trong đường cong có siêu cao)
- Nếu láng nhựa bằng nhũ tương thì lưọng nhũ tương sẽ gấp đôi lượng nựa nóng và được chia làm nhiều lần hơn  vì nhũ tuơng có 50-60 % trọng lượng là nước).

3. Các chú ý khi thi công mặt đường láng nhựa và  thấm nhập  nhựa:
- Các công đoạn cần được tiếp nối chặt chẽ không để một khâu nào đứt đoạn.
- Đoạn đường thi công trong ngày phải hoàn thành trong ngày đó
không được rải nhựa khi đá ẩm ướt hoặc lớp đáy ẩm ướt (nếu dùng nhựa nóng).
- Khi gặp mưa phải đợi đá khô mới tiếp tục thi công
- Lượng nhựa sử dụng phải khống chế chặt chẽ, đầm nén phải ở mức thích hợp, để tránh việc làm đầm nén không đủ làm ảnh hưởnng đến việc chèn đá con hoặc đầm nén quá nhiều làm vỡ đá gây ảnh hưởng đến khả năng thấp nhập nhựa.
- Trong năm nên chọn mùa khô và tương đối nắng để thi công.

4. Hoàn thiện nghiệm thu và bảo dưỡng:

4.1 Hoàn thiện lề đường và rãnh dọc
- Mặt đường nhựa chỉ được coi là thi công xong khi lề đã làmtheo đúng yêu cầu của thiết kế về bề rộng và độ dốc ngang.
- Đối với đường mới thi công, độ chặt của lề đường phải đạt tối thiểu K= 0.90 trong phạm vi độ sâu 1.20 m kể từ trên mặt. Đối với đường cũ đại tu mặt đường phải đảm bảo độ chặt của đất lề đường K=0.90 ít nhất tới độ sâu 0.30 m kể từ mặt đường.
- Trường hợp phải làm rãnh dọc, phải thực hiện đúng yêu cầu của thiết kế về bán kính kích  thước hình học và độ dốc, để đảm bảo thoát nước.

4.2 Quy định về sai số cho phép:
- Những sai số cho phép qui định sau có mục đích chiếu cố những sai sót nhỏ trong quá trình thi công, vì vậy chỉ được áp dụng khi nghiệm thu. Trong quá trình thi công, phải thực hiện đúng yêu cầu của thiết kế, không được phép dựa vào các sai số cho phép mà thi công thay đổi, châm chước thiết kế.
- Các sai số cho phép qui định như sau:
* Về yếu tố hình học:
- Sai số cho phép về chiều rộng mặt đường  +(-)10 cm
- Sai số cho phép về chiều dày mặt đường +(-)10 %
- Sai số cho phép về độ dốc ngang lề đường và mặt đường +(-)5% của trị số thiết kế.
- Độ bằng phẳng thử bằng thước 3 m, khe hở không quá 7mm.
* Về cường độ mặt đưòng:
Mô đuyn biến dạng mặt đường phải đạt hoặc vượt mô đuyn biến dạngthiết kế. E thực tế >(=) E  thiết kế
* Phương pháp kiểm tra:
- Chiều rộng mặt đường kiểm tra 10 mặt cắt ngang trong 1km
- Chiều dày mặt đường kiêm rtra 3 mặt cắt ngang trong 1cm, ở mỗi mặt cát ngang kiểm tra 3 điểm ở tim đường và ở 2 bên cách mép đường 1m
- Độ băng phẳng: Kiểm tra 3 vị trí trong 1 km, ở mỗi vị trí đặt thước 3m dọc tim đường và 2 bên cách mép đường 1m, đo khe hở giữa mặt đường và cạnh dưới của thước, cách tường 50 cm một điểm đo.
- Cường độ mặt đường kiểm tra phương pháp ép tĩnh, chùy rơi chấn động
- Đơn giản hơn là dùng cần Benkenman.
* Bảo dưởng mặt đường:
- Trên các mặt đường nhựa đang thi công, chỉ có các lọai xe bánh lốp đi qua và có tốc độ hạn chế 5km/h sau khi đã rải lớp đá, sỏi 10-20 hoặc 5-10 trên mặt nhựa.
- Chỉ cho phép các loại xe bánh đai sắt đi qua lại sau khi mặt đường đã ổn định hình thành đủ cường độ.
- Trong vòng 48 giờ kể từ khi thi công xong, xe chạy phải hạn chế tốc độ không quá 20km/h.

- Sau khi làm xong, mặt đường nhựa phải được chăm sóc bảo dưỡng trong 10 ngày, cu thể là pải quét vôi vào  trong mặt đường những đá, sỏi bị xe chạy làm té sang bên lề và có biện pháp điều chỉnh cho xe chạy đều khắp mặt đường. Sau đó tiếp tục bảo dưỡng như qui định về công tác duy tu bảo dưỡng đường. 

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Tăng cường kiểm soát chất lượng nhựa đường trong xây dựng công trình giao thông

Chiều 19/5, Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông đã chủ trì cuộc họp về thẩm định Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm nhựa đường (Bitum) phân cấp độ kim lún sử dụng trong xây dựng công trình giao thông. Tham dự cuộc họp có đại diện các Bộ Khoa học và Công nghệ, Xây dựng; Tổng cục Đường bộ Việt Nam; các Cục, Vụ, Viện, Tổng công ty liên quan thuộc Bộ; các Sở GTVT TP Hà Nội, TP Hải Phòng; các trường đại học, công ty kinh doanh nhựa đường; các chuyên gia…
Ở nước ta hiện nay đã có hệ thống tiêu chuẩn cho nhựa đường (bitum) phân loại mác nhựa theo độ kim lún. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, tại nhiều vị trí trên một số tuyến đường bộ đã xuất hiện chất lượng lớp mặt bê tông nhựa không đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, gây hư hỏng mặt đường, dẫn tới tiềm ẩn nguy cơ mất ATGT, tốn kinh phí và thời gian sửa chữa, tạo dư luận không tốt trong xã hội. Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do sử dụng các loại nhựa đường kém chất lượng, không đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu theo quy định

Toàn cảnh cuộc họp về Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về sản phẩm nhựa đường (Bitum)
 
Theo Ban soạn thảo, hiện nay, Việt Nam chưa sản xuất được nhựa đường mà phải nhập khẩu 100% từ nước ngoài. Tiêu chuẩn TCVN493:2005 sau một thời gian đưa vào áp dụng thì cũng thấy có một số bất cập cần phải bổ sung thêm một số chỉ tiêu mới để kiểm soát tốt hơn chất lượng nhựa đường. Chính vì vậy, việc xây dựng quy chuẩn về nhựa đường phân cấp theo độ kim lún nhưng có bổ sung thêm hai chỉ tiêu là PI và độ nhớt ở 600C để nâng cao chất lượng nhựa đường là bắt buộc để quản lý chất lượng sản phẩm hàng hóa. Trên cơ sở xây dựng Quy chuẩn này, các cơ quan quản lý cũng như người sử dụng rất dễ kiểm tra, kiểm soát chất lượng của nhựa đường.
Cũng theo Ban soạn thảo, về bố cục và nội dung, Quy chuẩn được bố cục và trình bày theo đúng hướng dẫn của TCVN1-1:2008 “Xây dựng tiêu chuẩn - Phần 1: Quy trình xây dựng tiêu chuẩn quốc gia” và TCVN1-2:2008 “Xây dựng tiêu chuẩn - Phần 2: Quy định về trình bày và thể hiện nội dung tiêu chuẩn quốc gia”. Nội dung các phần chính của Quy chuẩn gồm các quy định chung (phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng, giải thích từ ngữ), quy định về kỹ thuật (yêu cầu kỹ thuật, phương pháp lấy mẫu và phương pháp thử), quy định quản lý công bố hợp quy, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân và tổ chức thực hiện.
Tại cuộc họp, Thứ trưởng Nguyễn Ngọc Đông nhấn mạnh, nhựa đường là loại vật liệu quan trọng trong xây dựng mặt đường bộ, chất lượng của nhựa đường quyết định đến chất lượng của mặt đường bê tông nhựa, việc ban hành quy chuẩn về kỹ thuật quốc gia về sản phần bitum (nhựa đường) phân cấp theo độ kim lún sử dụng trong xây dựng công trình giao thông là rất cần thiết, vì thế Ban soạn thảo cần xem xét, nghiên cứu kỹ trong quá trình xây dựng dự thảo Quy chuẩn, mục tiêu là đưa loại vật liệu này ngày càng kiểm soát chặt chẽ hơn, phù hợp chung với điều kiện ở Việt Nam, thông lệ chung của quốc tế.
Trên cơ sở dự thảo Quy chuẩn, Thứ trưởng yêu cầu Vụ Khoa học công nghệ chỉ đạo Ban soạn thảo nghiên cứu tiếp thu, tổng hợp ý kiến góp ý hoàn thiện dự thảo, trong đó lưu ý nội dung nghiên cứu cần căn cứ các quy chuẩn kỹ thuật, tiêu thuẩn Việt Nam có liên quan và các tiêu chuẩn về nhựa đường của các nước tiên tiến và các nước trong khu vực có điều kiện thời tiết, khí hậu giống Việt Nam để rà soát, chỉnh sửa lại các yêu cầu kỹ thuật trong các chỉ tiêu của nhựa đường cho phù hợp; đồng thời thống nhất hai chỉ tiêu là chỉ số độ kim lún (PI) và độ nhớt tuyệt đối ở 600C để nhằm tăng cường kiểm soát chất lượng nhựa đường.


Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Không nên dùng cát tự nhiên trong bê tông nhựa

Để ngăn chặn, xử lý tình trạng hằn lún vệt bánh xe (HLVBX) cần áp dụng đồng bộ nhiều giải pháp cấp bách trong quá trình thiết kế, thi công bê tông nhựa.

                                      Thi công đường sử dụng cát tự nhiên độ lún tăng thêm 30%

Đầu tiên, các đơn vị thi công phải loại bỏ bụi thu hồi (kết quả nghiên cứu đã được kiểm chứng, đồng thời Bộ GTVT đã có văn bản chỉ đạo các trạm trộn không sử dụng bụi thu hồi). Qua khảo sát thực tế, các trạm trộn đã sử dụng lọc bụi ướt hoặc cắt bỏ đường hồi bụi (lọc bụi khô) nhưng việc hút bụi bẩn này phụ thuộc vào tốc độ của quạt hút, mức độ bẩn của cốt liệu sử dụng. Do đó, các đơn vị thi công không nên nghiền vật liệu ở thời điểm vật liệu đá bị ướt, dính bụi bẩn. Cùng với đó, thông qua thí nghiệm sàng để xác định lượng hạt <0,075 mm nhằm kiểm soát lượng bụi còn lại trên trạm. 
Cùng mỏ vật liệu nhưng quá trình khai thác và nghiền vật liệu ở thời tiết mưa và không mưa cho chất lượng khác nhau. Nguyên nhân khi khai thác và nghiền vật liệu vào trời mưa những hạt bụi bẩn bám chặt vào đá trong quá trình sàng. Trong khi chưa có công nghệ làm sạch hoặc giải pháp để rửa đá thì giải pháp trước mắt là không nghiền sàng đá khi đá bị ướt bẩn.
Các đơn vị không nên sử dụng cát tự nhiên để chế tạo bê tông nhựa bởi đây là loại vật liệu có nhiều nhược điểm như: Hạt tròn không sắc cạnh, có lẫn nhiều tạp chất, bụi bùn sét bất thường không kiểm soát được… Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy khi sử dụng cát tự nhiên thì khả năng kháng hằn lún kém đi khoảng 30%.

Đặc biệt, trong công tác kiểm soát tại trạm trộn, nhóm chuyên gia của Trường ĐH GTVT đã có nghiên cứu chuyên sâu về cấu tạo cũng như tính năng hoạt động của trạm trộn và đưa ra giải pháp kiểm tra, kiểm soát hệ thống sàng trên trạm. “Việc làm này phải được tiến hành trước ca thi công và sau khi thi công. Ngoài ra trong lúc lấy mẫu thí nghiệm căn cứ vào thành phần hạt của các bin có thể phán đoán trạm bị hư hỏng bộ phận sàng. Ngoài ra phải kiểm soát chặt chẽ chất lượng dầu FO, đầu đốt, các bộ phận kiểm soát nhiệt, hệ số cân để khẳng định độ chính xác”.

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Đề xuất sử dụng bê tông nhựa polymer để chống hằn lún?

Chủ đầu tư và các nhà thầu dự án tăng cường kết cấu mặt đường QL1, đoạn tuyến tránh TP Hà Tĩnh đặt quyết tâm đẩy nhanh tiến độ thi công đưa dự án về đích trong tháng 8, chào mừng 70 năm Ngày truyền thống ngành GTVT.

Thưởng nóng kích cầu tiến độ
Những ngày đầu tháng 6, trên công trường tuyến tránh TP. Hà Tĩnh, hàng trăm kỹ sư, công nhân các đơn vị vẫn gồng mình làm việc trong điều kiện thời tiết nắng nóng kỷ lục. Tại Km 12+400 đoạn qua xã Cẩm Bình, mũi thi công số 1 của Công ty TNHH Hòa Hiệp, kỹ sư Lê Thanh Hùng, Chỉ huy trưởng công trường cho biết: Trời nắng nóng khắc nghiệt nhưng vì tiến độ chung của dự án, chúng tôi vẫn huy động 100% kỹ sư, công nhân tham gia thi công, có ngày đến 50 kỹ sư, công nhân tay nghề cao, triển khai đồng loạt bốn mũi thi công ba ca liên tục. Đến ngày 1/6, đơn vị đã vượt 30% khối lượng công việc theo biểu đồ tiến độ chủ đầu tư đề ra.
Bên cạnh đó, việc theo dõi tiến độ cũng được triển khai thường xuyên. Ngay tại nhà điều hành và các phòng sinh hoạt tập thể của công nhân, nhà thầu Hòa Hiệp đều cho dán thông báo bản giao chỉ tiêu tiến độ, trong đó có kèm quy định về mức thưởng cho đội thi công vượt tiến độ nhưng vẫn phải đảm bảo chất lượng và phạt đội thi công không đảm bảo tiến độ đề ra. “Định mức 1.200m3 base/tuần, 1.300 tấn thảm BTN/tuần là cao nhưng đã có hai đội đạt thưởng, với số tiền là 20 triệu đồng”,  kỹ sư Hùng cho biết.
Tại các mũi thi công của Công ty Cổ phần 484 và Công ty CP Tân Hưng, gần 80% chiều dài tuyến đã được thảm bê tông nhựa lớp 1 cả hai chiều đường. Dự kiến đến 1/7 các nhà thầu sẽ bước sang giai đoạn thảm bê tông nhựa lớp trên và thi công hệ thống đảm bảo ATGT, phấn đấu trong tháng 8 sẽ đưa toàn bộ tuyến đường vào khai thác.

Kiến nghị dùng Polymer chống hằn lún bánh xe
Ông Vũ Đình Minh, Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Hạ tầng Sông Đà (đại diện chủ đầu tư) cho biết:  “Ngoài quy định, tiêu chuẩn hiện hành, chúng tôi xây dựng hệ thống quản lý chất lượng nội bộ, hệ thống kiểm soát quản lý chất lượng của nhà thầu và TVGS. Tất cả vật liệu trước khi đưa về bãi tập kết phải được kiểm tra, thí nghiệm, vật liệu cho kết quả đạt yêu cầu mới được đưa vào ủ trộn, phục vụ thi công. Sau từng công đoạn thi công của nhà thầu, chủ đầu tư, TVGS đã có những biện pháp kiểm soát chất lượng độc lập, đảm bảo tất cả các hạng mục sau khi hoàn thành đều đạt tiêu chuẩn đề ra”.
                                                   Thi công nhựa đường Polyme

                                                       Thi công nhựa đường Polyme

                                                      Thi công nhựa đường Polyme trên QL1

Một yếu tố khác là dự án phải thực hiện trong điều kiện “vừa thi công, vừa khai thác”. “Các nhà thầu trên tuyến không được làm đại trà mà phải chia mũi, phân đoạn thi công theo từng 300m đường rồi tổ chức rào chắn điều tiết giao thông. Bên trái làm, bên phải phương tiện vẫn lưu thông bình thường”, ông Hùng cho hay. 
                                             Nhà thầu phân làn giao thông khi thi công
Ngoài ra, phía chủ đầu tư cũng cắt cử riêng một đội ngũ cán bộ chuyên trách về công tác ATGT và vệ sinh môi trường theo dõi giám sát quá trình tổ chức của các nhà thầu 24/24h, sẵn sàng hỗ trợ, giúp đỡ nhà thầu giải quyết vấn đề phát sinh khi có sự cố xảy ra. Nhờ đó, 5 tháng qua trên toàn tuyến không xảy ra bất cứ vụ ùn tắc, va chạm giao thông nào.

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Phải báo cáo ít nhất trước 2 ngày khi thảm bê tông nhựa

Các dự án bảo trì đường bộ, trước khi thi công lớp bê tông nhựa phải báo cáo ít nhất trước 2 ngày.


Tổng cục Đường bộ VN vừa có văn bản yêu cầu các Cục Quản lý đường bộ, các Sở GTVT phải báo cáo Tổng cục ít nhất trước 2 ngày trước khi thi công lớp bê tông nhựa đối với các dự án bảo trì đường bộ có sử dụng bê tông nhựa.
Theo Tổng cục Đường bộ VN, trong thời gian qua chất lượng thi công lớp thảm bê tông nhựa của một số dự án bảo trì đường bộ còn tồn tại nhiều vấn đề .
Để đảm bảo chất lượng công trình đối với các dự án sử dụng Quỹ bảo trì đường bộ Trung ương, Tổng cục đường bộ VN yêu cầu các Cục Quản lý đường bộ, Sở GTVT phải báo cáo Tổng cục ít nhất trước 2 ngày về thời gian dự kiến rải bê tông nhựa, khối lượng thực hiện để Tổng cục có kế hoạch kiểm tra công tác quản lý chất lượng.
Khi triển khai thảm bê tông nhựa, chủ đầu tư dự án sửa chữa phải cử cán bộ kỹ thuật cùng với Tư vấn giám sát (TVGS) chỉ đạo các nhà thầu thực hiện.
Đối với các Cục Quản lý đường bộ, bắt buộc phải có mặt của cán bộ Chi cục Quản lý đường bộ cùng TVGS, Tư vấn quản lý dự án trong quá trình thi công. Công tác thiết kế hỗn hợp bê tông nhựa, bố trí máy móc thiết bị thi công, công tác lu lèn mặt đường và các nội dung khác phải tuân thủ theo đúng yêu cầu quy định.
Trước ngày dự kiến thảm bê tông nhựa phải theo dõi bản tin dự báo thời tiết và thực hiện các nội dung quy định tại Công điện số 44/CĐ-TCĐBVN ngày 4/12/2015 của Tổng cục Đường bộ VN về việc “Tăng cường kiểm soát chất lượng công tác thảm bê tông nhựa đối với dự án bảo trì đường bộ”.

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2015

Hướng dẫn sử dụng Rhinophalt trong bảo trì mặt đường bê tông nhựa

Bộ Giao thông vận tải vừa ban hành Chỉ dẫn tạm thời về kỹ thuật thi công và nghiệm thu lớp vật liệu Rhinophalt trong công tác bảo trì mặt đường bê tông nhựa.
Rhinophalt là hỗn hợp dạng lỏng, với thành phần gồm nhựa đường có nguồn gốc dầu mỏ, dung dịch pha loãng, chất hóa dẻo và Gilsonite. Vật liệu này có tác dụng làm chậm quá trình lão hóa của nhựa đường và hỗn hợp bê tông nhựa của mặt đường bê tông nhựa. Rhinophalt được sử dụng cho mặt đường bê tông nhựa chặt sử dụng nhựa đường thông thường và nhựa đường polime, mặt đường bê tông nhựa rỗng thoát nước; sử dụng Rhinophalt lần đầu đối với mặt đường đã có thời gian sử dụng từ 2 - 4 năm. Chu kỳ sử dụng Rhinophalt cho các lần tiếp theo là 5 - 6 năm đối với bê tông nhựa chặt, từ 4 - 5 năm đối với mặt đường bê tông nhựa rỗng thoát nước. 
Trong Chỉ dẫn, Bộ Giao thông vận tải nêu rõ, trước khi thi công bảo trì mặt đường bê tông nhựa, phải lập kế hoạch, biện pháp tổ chức thi công để giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của quá trình thi công đến quá trình lưu thông trên đường. Nếu có hiện tượng hư hỏng mặt đường thì phải tiến hành sửa chữa tại các vị trí hư hỏng trước khi thi công vật liệu Rhinophalt. Việc sửa chữa phải được thực hiện theo đúng quy định hiện hành áp dụng đối với kết cấu áo đường. 

Đối với việc trám vá các vết nứt trên mặt đường bê tông nhựa, trường hợp mặt đường có các vết nứt lớn hơn 2mm, thì cần phải trám vá các vết nứt bằng vật liệu nhũ tương nhựa đường polime. Trong trường hợp bề mặt đường có bụi bẩn, phải làm sạch bề mặt trước khi thi công lớp Rhinophalt. Và để tránh bị làm bẩn do việc thi công Rhinophalt gây ra, cần sử dụng các loại vật liệu phù hợp để che phủ lên các bộ phận, kết cấu trên đường như đá vỉa hè đường, các dải phân cách, các cọc tiêu hoặc các cọc của dải phân cách mềm… Trường hợp yêu cầu không sơn lại các vạch sơn trên đường cũng phải tiến hành che phủ các vạch sơn trước khi phun vật liệu Rhinophalt.

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2015

Giải pháp công nghệ trong quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa


Viện Khoa học và Công nghệ GTVT vừa tổ chức “Hội nghị Tập huấn phổ biến các giải pháp công nghệ trong quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa và xây dựng, cải tạo, nâng cấp cầu ở Việt Nam”. Hội nghị đã thu hút hơn 200 nhà quản lý, kỹ sư tại các Sở GTVT, Ban Quản lý dự án, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát, Nhà thầu thi công tại khu vực Miền Bắc.

Tiếp theo thành công của Hội nghị tập huấn tại khu vực Miền Trung và Phía Nam, Viện Khoa học và Công nghệ GTVT vừa  tổ chức Hội nghị Tập huấn phổ biến các giải pháp công nghệ trong quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa và xây dựng, cải tạo, nâng cấp cầu ở Miền Bắc (Hà Nội).

Hội nghị nhằm phổ biến và cung cấp cho các học viên đang công tác tại các Ban quản lý dự án, các tổ chức tư vấn, các đơn vị thi công xây dựng công trình giao thông, các phòng thí nghiệm, kiểm định Khu vực Miền Bắc trong việc nâng cao chất lượng thiết kế, thi công bê tông nhựa (BTN).

Đặc biệt là các giải pháp nhằm hạn chế hư hỏng vệt bánh xe trên các tuyến đường bộ; Triển khai thực hiện Thông tư số 27/2014/TT-BGTVT và các văn bản chỉ đạo khác về quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa và tăng cường cầu yếu của Bộ GTVT trong thời gian vừa qua; Kỹ thuật trong công tác khảo sát thí nghiệm, kiểm định,  thiết kế gia cường và thi công các cầu yếu trên toàn tuyến QL1 và đường Hồ Chí Minh; Thiết kế và thi công cầu treo dân sinh đảm bảo ATGT…

Hội nghị đã thu hút hơn 200 nhà quản lý, kỹ sư tại các Sở GTVT, Ban Quản lý dự án, Tư vấn thiết kế, Tư vấn giám sát, Nhà thầu thi công tại khu vực Miền Bắc. Chỉ đạo lớp tập huấn có lãnh đạo Viện, nhiều giảng viên là các Phó giáo sư, các chuyên gia của Viện cùng sự tham dự của đông đảo các các kỹ sư tư vấn, thí nghiệm viên...tại các đơn vị và văn phòng hiện trường của Viện Khoa học và Công nghệ GTVT – đang làm việc ở khu vực Miền Bắc.

Hội nghị tập huấn được tổ chức trong 2 ngày 16 và 17/10. Ngoài các nội dung giảng dạy, các giảng viên và học viên đã có thời gian trao đổi, thảo luận và giải đáp những vướng mắc, khó khăn trong thực tế khi áp dụng các văn bản qui phạm pháp luật về quản lý chất lượng thi công bê tông nhựa và xây dựng, cải tạo, nâng cấp cầu ở Việt Nam...

Thứ Năm, 16 tháng 7, 2015

Bê tông nhựa rỗng làm lớp mặt cho các tuyến cao tốc và mặt đường ôtô cấp cao ở Việt Nam

Việc sử dụng vật liệu bê tông nhựa lớp tạo nhám làm lớp mặt đường cho các tuyến cao tốc hay mặt đường cấp cao là hết sức có ý nghĩa và cần thiết. Nó đảm bảo đặc trưng yêu cầu kỹ thuật cao cho xe chạy với tốc độ cao, giảm thiểu những rủi ro tai nạn tiềm ẩn trên đường do yếu tố đường bộ.

1. Đặt vấn đề
Theo Quyết định số 140/QĐ-TTg ngày 21/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch chi tiết đường bộ cao tốc Bắc Nam phía Đông, nối từ Hà Nội đến Cần Thơ (là một bộ phận của mạng đường bộ cao tốc Việt Nam đã được Thủ tướng phê duyệt tại Quyết định số 1734/QĐ-TTg ngày 01/12/2008) sẽ xây dựng 18 tuyến cao tốc, chiều dài 1.811km.
Đường cao tốc cho phép xe chạy với tốc độ trên 80km/h – tốc độ như vậy để đảm bảo an toàn xe chạy, mặt đường yêu cầu phải đạt được chất lượng khai thác cao như: Độ nhám cao, độ bằng phẳng, độ ráo nước, trong đó bê tông nhựa lớp mặt đường tạo nhám là một yếu tố đặc biệt quan trọng.
Ở Việt Nam, tiêu chuẩn bê tông nhựa lớp tạo nhám đã ban hành ứng dụng xây dựng như: Lớp mặt đường Novachip cho tuyến cao tốc Sài Gòn – Trung Lương, bê tông nhựa theo tiêu chuẩn 22TCN 345-06 cho tuyến cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Dây. Trong khuôn khổ bài báo, tác giả đề cập thêm một loại vật liệu khác, đó là bê tông nhựa lớp tạo nhám cấp phối hở Open Graded Friction Courses Asphalt (OGFCA) là loại bê tông nhựa có độ rỗng dư cao (16÷18%), đã được nghiên cứu cụ thể với qui định các đặc trưng kỹ thuật giới hạn nhằm góp phần làm phong phú và đa dạng vật liệu bê tông tạo nhám hiện nay tại Việt Nam.
2. Bê tông nhựa lớp tạo nhám OGFCA
2.1. Khái niệm
Bê tông nhựa tạo nhám cấp phối hở được thế giới gọi tên với những thuật ngữ khác nhau như: Porous Asphalt (PA), Porous Friction Course (PFC), Open Graded Asphalt Concrete (OGAC), Open Graded Friction Course (OGFC).
2.2. Đặc điểm
- Giảm sự bắn nước và bụi nước sau bánh xe khi trời mưa to (Hình 2.1);
- Giảm sự phản chiếu ánh sáng và độ chói đèn pha và ban đêm;
- Giảm tiếng ồn khi xe chạy;
- Tăng ma sát mặt đường và bánh xe, chống trơn trượt tối đa trên mặt đường;
- Hạn chế vệt hằn lún bánh xe.
                                                                

                                             Hình 2.1: Bê tông nhựa rỗng thoát nước
2.3. Tình hình sử dụng vật liệu OGFCA ở các nước trên thế giới
- Ở Mỹ: Trung tâm quốc gia công nghệ Asphalt của Mỹ – NCAT (National Center For Asphalt Technology – Mỹ), Bang Washington có tiêu chuẩn cấp phối cho OGFCA với các cỡ hạt dmax = 9,5mm; 12,5mm và 25mm và các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu. Chiều dày lớp OGFCA không tính vào chiều dày tính toán kết cấu áo đường.
Kinh nghiệm sử dụng kết cấu: Lớp OGFCA chiều dày từ 4÷5cm, độ rỗng dư Va = 22%÷ 25% trên lớp BTN chặt (Hình 2.2). Nước thấm từ trên lớp mặt qua lớp BTN rỗng xuống dưới và chảy ra hệ thống thoát nước dọc, làm mặt đường luôn khô ráo.
                                                                   


Bảng 2.1. Tổng hợp các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu vật liệu OGFCA ở các bang của Mỹ
                                                   
               
                Hình 2.2: Đường cong cấp phối cốt liệu và cấu tạo kết cấu cho OGFCA
- Ở châu Âu: Đan Mạch, Hà Lan, Úc, Bỉ, Thụy Sĩ, Anh, Ý, Tây Ban Nha… là những quốc gia sử dụng nhiều vật liệu OGFCA cho các tuyến cao tốc từ những năm 1980. Vật liệu OGFCA thiết kế độ rỗng dư Va ³ 22%; ứng dụng chủ yếu nhằm cải thiện ATGT ở các vùng có nhiều mưa (giảm bắn nước và bụi nước), giảm tiếng ồn trên đường. Nhựa sử dụng: Bitum thông thường 60/70 + SBS hoặc 60/70 + EVA (etylene vinyl acetate), Bitum polime: 80/100 + SBS hoặc 80/100 + EVA, phụ gia sợi tổng hợp, bột cao su. Tiêu chuẩn kỹ thuật yêu cầu dựa trên tiêu chuẩn của Mỹ.
- Ở Úc, Nam Phi, châu Á: Các nước Nhật, Hàn Quốc hay Ấn Độ cũng đã sử dụng vật liệu OGFCA làm lớp mặt đường trên tuyến cao tốc. Các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu giống tiêu chuẩn của Mỹ và châu Âu.
2.4. Tình hình sử dụng bê tông nhựa lớp tạo nhám ở Việt Nam
Hiện nay tại Việt Nam, vật liệu bê tông nhựa lớp tạo nhám đã được sử dụng gồm có:
- Bê tông nhựa lớp tạo nhám theo công nghệ Novachip
Lớp phủ mỏng dùng công nghệ Novachip làm lớp tạo nhám trên tuyến cao tốc Sài Gòn – Trung Lương (Tiền Giang), chiều dày lớp Novachip từ 1,25 ÷ 2,5cm, lớp vật liệu này không tính vào chịu lực của kết cấu áo đường và yêu cầu kỹ thuật vật liệu cho lớp Novachip như Bảng 2.2.
                                                    


Bảng 2.2. Yêu cầu về các chỉ tiêu kỹ thuật của BTN Novachip
- Bê tông nhựa có độ nhám cao (BTNNC) theo 22TCN 345-06

Bảng 2.3. Yêu cầu các chỉ tiêu kỹ thuật của BTNNC
Nhận xét: Ở Việt Nam, vật liệu bê tông nhựa lớp tạo nhám, cấp phối cốt liệu sử dụng là cấp phối gián đoạn (Gap Graded) và sử dụng nhựa đường polime. Các loại mặt đường tạo nhám gồm có lớp bê tông nhựa theo công nghệ Novachip chiều dày từ 1,25÷2,5cm, không yêu cầu độ rỗng dư thiết kế; lớp phủ mỏng bê tông nhựa có độ nhám cao (theo 22TCN345-06) chiều dày từ 2÷3cm, độ rỗng dư thiết kế Va = 12÷16%. Hầu hết các lớp vật liệu tạo nhám này không tính vào chiều dày tính toán kết cấu áo đường và khả năng thoát nước lượng mưa lớn từ mặt đường còn hạn chế dễ bị ảnh hưởng an toàn chạy xe trên các tuyến cao tốc.
3. Đề xuất bê tông nhựa lớp tạo nhám cấp phối hở tại Việt Nam
3.1. Đề xuất thành phần cấp phối
Từ kinh nghiệm các nước trên thế giới đã sử dụng, tác giả đề xuất thành phần vật liệu OGFCA tại Việt Nam có các đặc điểm sau:
Cỡ hạt lớn nhất Dmax của vật liệu OGFCA ở Việt Nam là 9,5mm và kích cỡ mắt sàng vuông nghiên cứu cấp phối là: 9,5; 4,75; 2,36 và 0,075mm.


Bảng 3.1. Cấp phối vật liệu OGFCA đề xuất nghiên cứu tại Việt Nam
Cấp phối vật liệu OGFCA đề xuất nghiên cứu tại Việt Nam


Bảng 3.2. Đề xuất các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu cho OGFCA
Đề xuất các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu cho OGFCA
3.2. Lựa chọn thành phần vật liệu cho hỗn hợp


Bảng 3.3. Tổng hợp kết quả kiểm tra đặc trưng cơ – lý của vật liệu nghiên cứu
Tổng hợp kết quả kiểm tra đặc trưng cơ – lý của vật liệu nghiên cứu
3.3. Kết quả thí nghiệm nghiên cứu trong phòng
Nghiên cứu được tiến hành trong phòng thí nghiệm với 10 chỉ tiêu, bao gồm 03 chỉ tiêu được đề nghị trong hệ thống của EN, 5 chỉ tiêu Marshall theo hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam và 02 thí nghiệm đề nghị bổ sung để kiểm tra độ nhám và cường độ kháng lún vệt bánh. Số lượng mẫu thí nghiệm tiến hành cho mỗi chỉ tiêu là 03 mẫu/chỉ tiêu.
Bảng 3.4. Tổng hợp kết quả nghiên cứu các đặc trưng kỹ thuật của OGFCA


Tổng hợp kết quả nghiên cứu các đặc trưng kỹ thuật của OGFCA
4. Kết luận và kiến nghị
4.1. Kết luận
Việc ứng dụng vật liệu OGFCA là loại vật liệu mới của tác giả đề xuất làm mặt đường cho các tuyến cao tốc và mặt đường cấp cao trong tình hình hiện nay là hết sức có ý nghĩa thực tế. Với nguồn vật liệu trong nước hoàn toàn có thể chế tạo được loại bê tông nhựa rỗng OGFCA, đáp ứng được các chỉ tiêu kỹ thuật theo tiêu chuẩn của châu Âu (EN), đáp ứng chỉ tiêu kỹ thuật theo hệ thống của Việt Nam với lớp bê tông nhựa mỏng tạo nhám để sử dụng làm lớp mặt cho đường cao tốc và đường cấp cao của Việt Nam.
Ngoài ý nghĩa về đặc trưng kỹ thuật khai thác làm lớp mặt đường thì lớp OGFCA còn là lớp chịu lực, có thể đưa vào tính toán chiều dày chung của kết cấu áo đường nhằm làm giảm thiểu tối đa kinh phí xây dựng đường ô tô.
4.2. Kiến nghị
- Lựa chọn thành phần cốt liệu khi sử dụng với các chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu cho thiết kế thành phần OGFCA là hết sức quan trọng; kiểm tra đánh giá thận trọng cốt liệu, loại bitum cải tiến.
- Thử nghiệm hiện trường vật liệu OGFCA nhằm giám sát và kiểm tra định kỳ các đặc tính kỹ thuật khai thác, từ đó có thể đối chứng với vật liệu bê tông nhựa tạo nhám theo công nghệ Novachip và bê tông nhựa tạo nhám cao theo 22TCN 345-06 hiện đã được sử dụng, qua đó để sử dụng trong thực tế và kiến nghị cho lộ trình tiến tới để sử dụng bao gồm xây dựng và theo dõi đoạn thử nghiệm áp dụng làm lớp mặt đường trên các tuyến cao tốc và đường ô tô cấp cao hiện nay tại Việt Nam.



Thứ Ba, 14 tháng 7, 2015

Các loại nhựa đường cải tiến

Trên phần lớn các con đường của chúng ta, các đặc tính kỹ thuật của các vật liệu nhựa đường truyền thống thỏa mãn mọi yêu cầu kỹ thuật. Tuy vậy yêu cầu về làm đường ngày càng tăng lên, qua từng năm cả về chất lượng cũng như số lượng. Số lượng xe lưu hành liên tục tăng lên cùng với sự tăng lên của tải trọng trục xe đã trở thành một xu hướng phổ biến. Dự kiến xu hướng này tiếp tục phát triển vào những năm từ năm 2000 trở về sau. Để tạo điều kiện cho những kỹ sư cầu đường đáp ứng được những thách thức ngày càng lớn, hiện nay có nhiều loại nhựa đường cải tiến đã được kiểm chứng qua thực tế trên các con đường.
Thiết kế cơ bản tốt, tổ chức xây dựng, bảo dưỡng định kỳ làm cho đường rải bằng bê tông asphalt không chỉ vượt qua mọi yêu cầu phải thực hiện mà còn mang lại một tiêu chuẩn cao về độ an toàn và tiện dụng, điều đó đã trở nên đồng nghĩa với việc rải thảm liên kết nhựa đường. Tuy vậy, tại một số khu vực nhất định trên đường chúng ta có thể dự đoán trước là sẽ phải chịu âp suất cao hơn ở các vùng khác. Do đó, nếu muốn toàn bộ chiều dài con đường thực hiện một cách thỏa đáng mọi chức năng trong suốt tuổi thọ thiết kế, chúng ta phải quan tâm đặc biệt đến những vùng chịu tải trọng lớn của con đường. Tất cả chúng ta đều biết là cần có các vật liệu đặc biệt trên các bề mặt cầu, nhưng nhu cầu về các khu vực tiêu chuẩn khác lại thường bị bỏ qua trong quá trình xây dựng hoặc bão dưỡng. Một điều rõ ràng là làm tốt công tác bảo dưỡng định kỳ hoặc củng cố cần thiết theo suốt chiều dài con đường nhất định sẽ tốt hơn là phải làm mới lại một đoạn đường nào đó chỉ sau một thời gian ngắn được đưa vào sử dụng. Sự cản trở giao thông trong thời gian bảo dưỡng là một chi phí đáng kể đối với xã hội. Ngừng hoạt động một làn xe trên một đường cao tốc ở Vương quốc Anh vào năm 1987 được ước tính là tiêu tốn của cộng đồng 20.000 bản Anh trong một ngày, đây có thể là một tính toán chưa sát thực tế.
Việc sử dụng nhựa đường cải tiến đưa ra một giải pháp nhằm làm giảm số lần bảo dưỡng ở các điểm đen giao thông, cho một tuổi thọ phục vụ dài hơn nhiều, nhằm xử lý bảo dưỡng ở các công trường khó khăn. Để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế của nhựa đường cải tiến thì tốt nhất là sử dụng chúng kết hợp chúng với các cốt liệu có chất lượng cao trong các hỗn hợp đá nhựa thoát nước hoặc ở các khu vực có yêu cầu về tính chống rão và các biến dạng đặc biệt.
Mức độ cải tiến theo yêu cầu, do đó kéo theo chi phí, phụ thuộc vào các yêu cầu của công trường cần được xử lý. Cải tiến dơn giản nhất về tính chống biến dạng có thể đạt được bằng cách sử dụng mảnh vụn cao su của lốp tái chế. Nhằm hướng tới việc đưa ra thị trường, các hợp chất mangan hữu cơ, lưu huỳnh và các chất polyme dẻo nhiệt có thể nâng cao tính dễ thi công của asphalt trong thời gian đầm lèn và tính chống biến dạng của nó trên đường. Nhằm đáp ứng tốt nhu cầu của giao thông, các loại cao su dẻo nhiệt được sử dụng nhằm nâng cao cả tính chống biến dạng và tính chống rão. Các hệ thồng chịu nhiệt cho các đặc tính kỹ thuật cốt yếu nhất là tính chống biến dạng tuyệt vời cùng với tính dẻo nổi bật.
1   Vai trò của các nhựa đường cải tiến trong hỗn hợp nhựa đường – cốt liệu
Nhựa đường là nguyên nhân làm cho tất cả các vật liệu có chứa nhựa đường có tính đàn hồi – nhớt, nó đóng góp một phần lớn trong việc quyết định nhiều về các đặc tính kỹ thuật biểu hiện trên con đường. Các ví dụ điển hình là tình chống biến dạng dư và nứt. Nhìn chung, bất kỳ yếu tố nào gây ra biến dạng ở một vật liệu nhựa đường, đều tăng lên theo cả thời gian chịu tải và nhiệt độ.
Sự biến dạng do tác động của một tải trọng cho thấy một phản ứng đàn hồi tức thời xảy ra sau đó do sự tăng lên dẫn đến sự biến dạng theo thời gian gây ra bởi tính nhớt của vật liệu, khi tải trọng bị loại bỏ, sự biến dạng đàn hồi được phục hồi ngay, sự phục hồi tiếp theo sẽ xảy ra theo thời gian. Sự phục hồi dần dần theo thời gian của vật liệu được xem như là “tính đàn hồi chậm”. Cuối cùng một sự biến dạng vĩnh viễn còn lại vẫn giữ nguyên mà không thể phục hồi được, do tính nhớt trực tiếp gây ra.
Phản ứng với một tải trọng kéo gây ra đối với một thành phần trong vật liệu nhựa đường do tải trọng di động của giao thông gây ra. Ở đây không thể phân biệt được hai thành phần của phản ứng đàn hồi, nhưng đã cho thấy một sự biến dạng dư đối với một tải trọng kéo đơn. Khi nhiều triệu tải trọng kéo tác động lên mặt đường sẽ hình thành sự tích lũy lớn, điều này là phần gây nên sự biến dạng dư trên bề mặt đường. Từ những điều trên cho thấy rõ ràng là tại sao sự biến dạng xảy ra nhiều hơn khi nhiệt độ xung quanh cao, ở những nơi tốc độ giao thông thấp hoặc ở những khu vực giao thông tĩnh, ở các nút giao thông nơi phương tiện dừng đỗ.
Một trong những vai trò cơ bản của chất cải tiến nhựa đường là tăng tính kháng của asphalt với sự biến dạng dư khi nhiệt độ đường cao, mà không tác động xấu đến các đặc tính kỹ thuật của nhựa đường hoặc asphalt ở các nhiệt độ khác. Có thể đạt được điều này bằng cách làm cứng hóa nhựa đường để tổng phản ứng đàn hồi – nhớt của asphalt bị giảm đi với mức độ giảm tương ứng của độ biến dạng dư, hoặc bằng cách tăng độ đàn hồi của nhựa đường, do đó giảm thành phần nhớt mà từ đó có được kết quả là làm giảm mức độ biến dạng dư.
Tăng độ cứng của nhựa đường cũng giống như tăng độ ứng động học của hỗn hợp bê tông nhựa asphalt, do đó cải tiến khả năng phân tán lực của vật liệu và tăng độ bền kết cấu và tuổi thọ thiết kế của con đường; hoặc là tạo ra kết cấu có tuổi thọ và độ bền tương tự nhưng dối với độ dày các lớp mỏng hơn. Tăng thành phần dẻo của nhựa đường sẽ góp phần cải tiến độ đàn hồi của bê tông asphalt, tính chất quan trọng cần có do phải chịu sức căng lớn.
2   Cải tiến nhựa đường
Trong nhiều năm các nhà nghiên cứu và các nhà hóa học nghiên cứu phát triển đã làm thí nghiệm với các nhựa đường được cải tiến, chủ yếu là để sử dụng trong công nghiệp, bằng cách cho thêm vào nhựa đường các chất như amiăng, các khoán chất đặc biệt, các sợi khoáng và cao su. Trong 20 năm vừa qua, các nhà nghiên cứu đã xem xét rất nhiều loại vật liệu cải biến cho nhựa đường được sử dụng trong xây dựng đường bộ.
Đối với các chất cải biến, để có hiệu quả và để sử dụng có hai yếu tố là tính khả thi và tính kinh tế, chúng phải đáp ứng được các yêu cầu:
·        Sẵn có;
·        Không biến chất ở nhiệt độ trộn thảm;
·        Có thể trộn được vào nhựa đường;
·        Không làm cho nhựa đường quá nhớt ở nhiệt độ trộn thảm, ở nhiệt độ đầm nén trên mặt đường, không làm nhựa đường bị cứng hoặc giòn khi phải làm việc ở nhiệt độ thấp;
·        Có hiệu quả kinh tế;
Các chất cải biến khi được trộn với nhựa đường phải có các đặc tính sau:
·        Giữ được các đặc tính kỹ thuật trong thời gian bảo quản, thi công trên mặt đường  và khi con đường được đưa vào sử dụng;
·        Có thể được chế biến bằng các thiết bị thông thường;
·        Ổn định về lý – hóa trong thời gian bảo quản, sử dụng và trên đường;
·        Đạt độ nhớt trộn và phun ở nhiệt độ sử dụng bình thường.
2.1   Cải tiến nhựa đường bằng cách cho thêm lưu huỳnh
một thời gian dài. Tăng hàm lượng lưu huỳnh vượt quá ngưỡng này, một lượng lưu huỳnh lơ lững tạm thời dư ra trong thời gian trộn thảm. Khi bê tông asphalt nóng, lượng lưu huỳnh dư ra làm cho hỗn hợp bê tông rất dễ thi công vì lưu huỳnh là chất lỏng có độ nhớt thấp ở trong khoảng từ nhiệt độ sôi của nó cho tới 1600C. Khi asphalt nguội đi thì lưu huỳnh dư ra một phần sẽ lấp đầy và theo hình dạng của các lỗ rỗng, khe hở trong vật liệu đã đầm lèn, chèn móc các viên cốt liệu lại với nhau, do đó làm tăng ma sát giữa các viên cốt liệu riêng rẽ trong asphalt và đem lại một độ bền cơ học cao cho mặt đường.
Lưu huỳnh được sử dụng trong hai loại asphalt để rải thảm đường bộ và một số sản phẩm độc quyền. Asphalt được cho thêm một lượng tương đối nhỏ lưu huỳnh dưới dạng một chất hòa tan trong nhựa đường. Cách gia công thứ hai, đươc biết đến với tên gọi là THERMOPAVE, sử dụng hàm lượng lưu huỳnh cao, lượng lưu huỳnh dư ra đóng vai trò như một chất khoáng đúc, khi được trộn với cốt liệu sẽ tạo ra một hỗn hợp rất dễ thi công, có thể rải bằng máy mà không cần đầm bằng xe lu và khi nguội đi có khả năng chống biến dạng cao.
Shell cũng đã phát triển một sản phẩm có tên gọi là THERMOPATCH đây là một loại asphalt có hàm lượng lưu huỳnh cao để sữa chữa ổ gà, sử dụng để phục hồi đường… có thể sử dụng cho cả đường bê tông asphalt hoặc mặt đường bê tông xi măng. Nhựa đường ở thể lỏng chảy tự do được rót vào lỗ, khe nứt trên mặt đường đến bằng mức mặt đường và khi nhựa đường nguội đi có thể sẵn sàng cho xe lưu thông.
Lượng lưu huỳnh sẽ phản ứng với nhựa đường phụ thuộc vào nhiệt độ và thành phần hóa học của nhựa đường. Người ta đã chứng minh rằng, lưu huỳnh chủ yếu là phản ứng với thành phần naphthen thơm của nhựa đường, bằng cách cộng thêm vào phân tử, hoặc bằng cách oxy hóa nhựa đường thông qua việc lấy hydro để tạo ra hydro sunfua. Ở khoảng nhiệt độ từ 119,30C là nhiệt độ điểm sôi của lưu huỳnh đơn nguyên chất và 1500C thì phản ứng chủ yếu là cộng thêm lưu huỳnh vào làm tăng thêm ở vùng chất thơm phân cực và một thay đổi rất nhỏ trong đặc tính lưu biến của nhựa đường. Trên 1500C phản ứng oxy hóa cạnh tranh tăng lên rõ rệt làm cho asphalt tăng lên và tác động đến các đặc tính của nhựa đường tương tự như tác động của quá trình sục khí.
Sự tiến triển của hydro sunfua ở nhiệt độ cao trên 1500C rõ ràng là không thể chấp nhận được, tuy vậy người ta đã chứng minh rằng nếu ta kiểm soát được nhiệt độ một cách kỹ lưỡng và bằng cách sử dụng các thiết bị chuyên dùng, vấn đề phát thải hơi có thể được khắc phục.
Phụ thuộc vào thành phần hóa học của nhựa đường, xấp xỉ 15 – 18% lượng lưu huỳnh có thể bị phân tán trong nhựa đường và ổn định trong Trong thực tế, cơ chế làm cứng của lưu huỳnh không hoàn toàn đơn giản  như thế và những thay đổi trong các đặc tính và biểu hiện của asphalt được cải tiến cũng phụ thuộc vào thời gian. Ban đầu độ ổn định Marshall của hỗn hợp asphalt được trộn với lưu huỳnh, thường là thấp hơn một chút so với nhựa đường thông thường. Tuy nhiên, sau 7 đến 21 ngày, độ ổn định Marshall tăng lên gần gấp đôi so với vật liệu không được cải tiến. Lời giải thích hợp lý nhất cho vấn đề này là quá trình hóa tinh thể của lưu huỳnh bị chậm lại bởi một số phản ứng với nhựa đường.
2.2   Cải tiến nhựa đường bằng cách cho thêm cao su
Polybutadien, polyisopren, cao su thiên nhiên, cao su butyl, chloropren, styrene-butadien-caosu… tất cả đã được sử dụng cùng với nhựa đường nhưng tác dụng chủ yếu của chúng là làm tăng độ nhớt của nhựa đường. Trong một số trường hợp cao su được sử dụng ở dạng lưu hóa , ví dụ như những mảnh lốp tái chế, nhưng dạng này khó phân tán trong nhựa đường, cần một nhiệt độ cao và thời gian biến đổi chuyển hóa dài và có thể tạo ra chất liên kết không đồng nhất, trong đó cao su hoạt động chủ yếu như một chất dẻo.
2.3   Cải tiến nhựa đường bằng cách cho thêm các hợp chất mangan hữu cơ
Việc sử dụng hợp chất mangan hữu cơ trong nhựa đường là một phát minh của cả Hoa Kỳ (bằng sáng chế số 4234346) và của Vương quốc Anh (bằng sáng chế số 1600879); có thể nâng cao được độ bền của vật liệu rải đường bằng cách cho thêm vào nhựa đường một hợp chất mangan hữu cơ, hoặc kết hợp giữa mangan hữu cơ  với coban hữu cơ, hay hợp chất đồng hữu cơ. Sản phẩm này được biết đến nhiều hơn dưới tên là CHEMCRETE. Sử dụng nhựa đường cải tiến bằng mangan hữu cơ trong asphalt và hỗn hợp đá nhựa được giải thích là cải thiện tính mẩn cảm với nhiệt độ của hỗn hợp và qua đó nâng cao các đặc tính hóa ký của chúng như độ ổn định Marshall, chống biến dạng dư và độ cứng động học.
Để thúc đẩy hợp chất mangan hữu cơ phân tán nhanh trong nhựa đường, vật liệu được trộn với một chất mang. Các chất cải biến khác nhau thường liên quan đến chủng loại và nồng độ hợp chất hữu cơ kim loại và độ nhớt của dầu làm chất mang được sử dụng, cả hai khía cạnh cần phải xem xét để đảm bảo là đã sử dụng các chất cải biến phù hợp cho từng ứng dụng riêng biệt.
Cơ chế được đề xuất trong bằng sáng chế CHEMCRETE là sử dụng các hợp chất có cấu trúc vòng nhất định trong nhựa đường ví dụ như tetrahydronaphthalen và các cấu trúc tương tự, những chất có thể tự oxy hóa. Người ta cho rằng mangan xúc tiến việc tạo thành một hợp chất dicetone mà sau đó tạo thành phức chất ổn định. Các phức chất này liên kết chặt chẽ với phân tử nhựa đường, nâng cao tính mẩn cảm với nhiệt độ của nhựa đường và tăng độ bền của hỗn hợp nhựa đường.
Phản ứng lưu hóa phụ thuộc vào sự có mặt của oxy trong nhựa đường, độ dày của lớp nhựa đường và nhiệt độ. Các thí nghiệm bảo quản thực hiện bằng CHEMCRETE đã cho thấy rằng một nhựa đường 100 pen chứa 2% theo trọng lượng chất cải biến mangan (U1-49) bảo quản ở nhiệt độ 1600C trong 28 ngày bị hóa cứng từ 127 pen xuống còn 100 pen.
Độ ổn định Marshall và thương số được đo trên hai loại bê tông asphalt mịn, một được sản xuất từ nhựa đường 100 pen chứa CHEMCRETE, còn lại được sản xuất từ nhựa đường 50 pen thông thường. Đặc tính ban đầu của hai hỗn hợp này  là rất giống nhau, tuy nhiên sau 12 tháng thì độ ổn định Marshall của bê tông asphalt mịn  đã tăng lên 400%. Trong một thời gian 12 tháng độ chảy Marshall đã tăng lên khoảng 75% dẫn đến một sự tăng lên toàn bộ của thương số Marshall hơn 200%. Người ta tin rằng sự gia tăng độ chảy Marshall là biểu hiện của kết quả đạt được độ bền trong thời gian lưu hóa. Những cải tiến tương tự đã được xác định bằng cách sử dụng thí nghiệm hình thành vệt lún bánh xe  trong phòng thí nghiệm trên các mẫu bê tông asphalt lấy từ các đoạn đường thí nghiệm. Độ biến dạng ở 450C, ngay sau khi rải bê tông đối với asphalt được cải tiến và asphalt thông thường rất giống nhau – 5mm/h, tuy nhiên sau 6 tháng độ biến dạng ở asphalt cải tiến đã giảm xuống dưới 1mm/h.
Người ta đã tiến hành một số thí nghiệm trên mặt đường cao tốc với nhiều loại hình bảo dưỡng khác nhau trong 5 năm qua. Việc sử dụng các chất cải tiến mangan hữu cơ trong asphalt lu nóng gần đây được TRRL đánh giá và dưa vào tài liệu Quy phạm cảu cục vận tải vào năm 1990.
2.4   Cải tiến nhựa đường bằng cách cho thêm các polyme dẻo nhiệt
Polyethylen, polypropylen, polyvinyl chorid, polystryren và ethylen vinyl acetate (EVA) là các polyme dẻo nhiệt  chủ yếu đã được kiểm chứng qua các thí nghiệm về các chất liên kết được cải tiến dùng cho đường bộ. Bởi vì là các chất dẻo dưới tác động của nhiệt, chúng có đặc tính là mềm đi khi nóng lên và cứng lại khi nguội đi.
Các polyme dẻo nhiệt khi được trộn với nhựa đường, khi ở nhiệt độ môi trường bình thường chúng liên kết với nhựa đường và làm tăng độ nhớt của nhựa đường. Tuy nhiên, các chất polyme dẻo nhiệt không làm tăng đáng kể độ đàn hồi của nhựa đường, khi bị nung nóng chúng bị tách ra khỏi nhựa đường, mà điều này có thể dẫn đến phân tán thô khi nguội đi. Tuy vậy, chấp nhận những hạn chế này  việc sử dụng EVA với nồng độ 5 % trong nhựa đường 70 pen đã trở nên rất thông dụng.
Chất đồng trùng hợp (co-polymer) EVA là các vật liệu dẻo nhiệt có cấu trúc ngẫu nhiên được sản xuất bằng cách đồng trùng hợp ethylen và vinyl acetate. Các chất đồng trùng hợp có hàm lượng vinyl acetat thấp có đặc tính giống như một polyethylen tỷ trọng thấp. Thành phần vinyl acetat tăng lên thì các đặc tính của chất đồng trùng hợp thay đổi. Các đặc tính của chất đồng trùng hợp EVA được kiểm soát bởi trọng lượng phân tử và hàm lượng vinyl acetat:
Trọng lượng phân tử: trọng lượng phân tử của nhiều polyme được xác định theo các đặc tính khác nhau, tiêu chuẩn thực hiện đối với EVA nhằm xác định chỉ số nóng chảy (Melt Flow Index – MFI), thí nghiệm về độ nhớt ngược lại có liên quan đến trọng lượng phân tử, MFI càng cao, trọng lượng phân tử và độ nhớt càng thấp và điều này tương tự như thí nghiệm kim lún đối với nhựa đường – kim lún càng cao thì trọng lượng phân tử trung bình và độ nhớt của nhựa đường càng thấp.
Hàm lượng vinyl acetat: để xác định các tác động chính của vinyl acetat đến các đặc tính của chất liên kết được cải biến, qua đó ta thấy phần polyethylen thông thường của chuỗi có thể xếp rất sát nhau và tạo ra vùng kết tinh, nó cũng cho thấy các nhóm vinyl acetat lớn phá vỡ sự sắp xếp sát nhau này như thế nào để tạo ra các vùng cao su thơm không kết dính, vùng tinh thể tương đối cứng, trong khi vùng vòng thơm lại mềm dẻo, càng nhiều nhóm vinyl acetat (hoặc hàm lượng vinyl acetat càng cao), tỷ lệ vùng mềm dẻo càng cao, và ngược lại tỷ lệ vùng tinh thể càng thấp.
Người ta phân loại các chất đồng trùng hợp EVA sẵn có bằng  MFI và hàm lượng vinyl acetat. Ví dụ EVA cơ MEI là 150 và hàm lượng vinyl acetat là 19 thì phẩm cấp nhựa đường ghi là 150/19. Từ các loại chất trùng hợp EVA đa dạng sẵn có, phẩm cấp 150/19 và với quy mô nhỏ hơn các phẩm cấp 45/33 là thông dụng nhất, chúng thường được trộn với nhựa đường 70 pen. Các chất đồng trùng hợp EVA dễ bị phân tán trong nhựa đường và rất thích hợp với nhựa đường. Chúng ổn định với nhiệt độ ở nhiệt trộn asphalt thông thường. Tuy vậy, trong quá trình bảo quản có thể xảy ra sự phân ly, do đó người ta đề xuất các sản phẩm hỗn hợp được cho lưu thông tuần hoàn trước khi sử dụng.
Bảng 1  cho thấy những thay đổi phổ biến về độ kim lún và điểm hóa mềm khi cho thêm 5% hai loại phẩm cấp EVA và nhựa đường 70 pen, các đặc tính Marshall và vệt lún bánh xe của asphalt lu nóng được sản xuất từ các chất liên kết đã được cải tiến.
Bảng 1 – Tác động của các phẩm cấp EVA 150/19 và 45/33 đến các đặc tính của nhựa đường và asphalt lu nóng rải lớp mặt đường
Chất liên kết
Các đặc tín cảu chất liên kết
Các đặc tính của Marshall
Độ lún bánh xe ở 450C, mm/h
Kim lún ở 250C, dmm
Điểm mềm (IP),0C
Độ ổn định, kN
Độ chảy, mm
Tỷ số, kN/mm
70 pen
70 pen + 5% EVA 150/19
70 pen + 5% EVA 45/33

68
50
57
49,0
65,5
58,0
6,3
7,6
8,0
3,3
3,2
2,7
1,9
2,4
3,0
4,4
0,8
1,0

Các kết quả thí nghiệm lún bánh xe cho thấy độ lún giảm đi 4 lần khi cho thêm EVA của từng phẩm cấp nói trên vào nhựa đường 70 pen. Mức độ chống lại sự biến dạng cũng ít nhạy cảm đáng kể đối với sự thay đổi nhiệt độ. Sự tăng lên của độ ổn định Marshall là không đúng như một dự đoán dựa tren các kết quả thí nghiệm vệt lún bánh xe. Đây là sự thật về phần lớn các hổn hợp polyme cải tiến được kiểm tra trong thí nghiệm Marshall, các kết quả của thí nghiệm Marshall về các vật liệu cải biến bằng cách cho thêm polyme cần được giải thích một cách cẩn thận.
Mặc dù đạt được những cải thiện về đặc tính kỹ thuật của nhựa đường bằng cách sử dụng EVA, hiện nay một trọng lượng lớn EVA được sử dụng để “chống chịu thời tiết lạnh”. EVA có xu hướng nâng cao tính dễ thi công của asphalt vì tính mẫn cảm với lực cắt và bởi vì sử dụng với loại nhựa dường hơi mềm hơn. Tuy vậy, cần cẩn thận khi sử dụng EVA khi rải asphalt lu nóng làm lớp mặt đường trong điều kiện nhiệt độ môi trường thấp, đặc biệt khi công trường để hở cho gió thổi ngang. Nhựa đường cải tiến bằng EVA bị hóa cứng nhanh chóng do EVA là polyme tinh thể (quá trình này xãy ra khi nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ lu tối thiểu). Cần lưu ý với điều này vì tính dễ thi công của asphalt giảm sút nhanh chóng cùng với quá trình giảm nhiệt. Một công trường đang thi công trong điều kiện giá lạnh sẽ làm cho mặt đường khô cứng nhanh chóng. Nếu điều này xảy ra thì vật liệu được đầm vào asphalt sẽ đâm vào bề mặt khô cứng và găm vào lỗ thủng chứ không phải được gắn chặt vào asphalt với bề mặt vữa đông kết bao quanh.
Để có thể đạt được các đặc tính kỹ thuật tối ưu của nhựa đường EVA cải tiến trong thực tế thì điều chắc chắn là chúng phải sử dụng với tỷ lệ hợp lý, song cũng phải chấp nhận là chúng có những hạn chế nhất định. Nếu nhận biết những điều này thì nhựa đường EVA cải biến sẽ đóng góp quan trọng vào việc nâng cao hiệu quả kinh tế của đường bộ Anh quốc.
2.5   Cải tiến nhựa đường bằng cách cho thêm cao su dẻo nhiệt
Trong 4 chất đàn hồi dẻo nóng chínhpolyurethane, chất đồng trùng hợp polyether-polyester, các chất alken (olefinic) đồng trùng hợp và chất đồng trùng hợp có đoạn styren, các chất đồng trùng hợp có đoạn styren đã được chứng minh là có tiềm năng lớn nhất khi được trộn với nhựa đường
Chất đồng trùng hợp có đoạn styren thường được gọi là cao su nhiệt dẻo (TR). Cao su nhiệt dẻo có thể được tạo ra bằng cơ chế tạo chuỗi của phản ứng polyme hóa liên tục styren-butadien-styren (SBS) hoặc styren-isopren-styren (SIS). Để tạo ra các polyme nêu trên cần có chất xúc tác trong phản ứng ghép nối. Đối với các polyme không chỉ có các chất đồng trùng hợp thẳng mà còn có các chất đồng trùng hợp có nhiều nhánh có thể được tạo ra; những chất này thường được gọi là các chất đồng trùng hợp phân nhánh hoặc hình rẻ quạt, hình sao.
Cao su nhiệt dẻo có sức bền và tính đàn hồi do liên kết ngang vật lý của phân tử trong mạng lưới khong gian ba chiều. Điều này có được do liên kết của đoạn styren cuối với các khối riêng rẽ, tạo ra liên kết ngang lý học đối với các khối cao su polyisopren hoặc polybutadien ba chiều. Đoạn cuối polystyren sẽ tạo cho polyme có sức bền và đoạn giữa sẽ làm cho vật liệu này có tính đàn hồi đặc biệt.
Ở nhiệt độ trên điểm nhiệt độ hóa thủy tinh của polystyren (1000C), polystyren mềm đi vì khối yếu đi và thậm chí sẽ bị tách ra dưới tác động của mọt ứng suất, đến mức đó cho phép chế biến dễ dàng. Khi nguội đi các khối sẽ lại liên kết lại, sức bền và tính đàn hồi sẽ được phục hồi, điều này có nghĩa là vật liệu này là một chất nhiệt dẻo.
2.5.1   Ảnh hưởng của thành phần cấu tạo của nhựa đường đến các hỗn hợp cao su nhiệt dẻo/nhựa đường
Nhựa đường là những hỗn hợp phức tạp có thể chia ra các nhóm phân tử có cấu trúc tương tự:
Các chất no;
Các chất thơm;
Các chất nhựa;
Các asphalt.
Các chất no và các chất thơm có thể được xem như là các chất mang đối với các chất thơm phân cực như các chất nhựa và các asphalt. Các chất thơm phân cực tạo ra tính đàn hồi – nhớt của nhựa đường. Điều này là do liên kết của các phân tử phân cực mà liên kết đó đẫn đến tạo ra cấu trúc lớn, trong một số trường hợp là cấu trúc mạng lưới có cấu trúc ba chiều như loại nhựa đường “keo”. Mức độ xuất hiện liên kết này phụ thuộc vào nhiệt độ, trọng lượng phân tử của các thành phần, nồng độ của các chất thơm phân cực và lực hòa tan của các chất no và chất thơm trong pha malten. Nếu nồng độ và trọng lượng phân tử của các asphalten là tương đối thấp, thì sẽ tạo ra một loại nhựa đường “sol”.
Cho thêm cao su nhiệt dẻo, với trọng lượng phân tử bằng hoặc cao hơn các asphalten sẽ làm xáo trộn sự cân bằng pha. Polyme và asphalten “cạnh tranh nhau” về lực hòa ta của malten, nếu không có đủ malten, có thể xảy ra hiện tượng tách pha. Cấu trúc của các hệ thống nhựa đường/polyme “thích hợp” và “không thích hợp” được quan sát bằng kính hiểm vi. Hệ thống tương thích có cấu trúc “như bọt biển” đồng nhất trong khi hệ thống không tương thích có cấu trúc thô đứt quãng.
Sự tách pha hay tính không tương thích có thể được kiểm tra bằng một thí nghiệm bảo quản nóng đơn giản. Thiết bị bảo quản được sử dụng cho thí nghiệm này, nó có ba vòi tháo dọc theo chiều dài, phía trên, một phần ba giữa thân và một phần ba ở đáy để có thể thu được mẫu ở ba phần tách biệt. Các thí nghiệm được thực hiện với các mẫu nhựa đường lấy từ đỉnh, một phần ba giữa thân và một phần ba ở đáy bình đựng mẫu. Một số điểm khác biệt về điểm hóa mềm của hai mẫu ở phía trên và đáy của hai loại nhựa đường chứa 7% cao su nhiệt dẻo SBS sau 1,3,5 và 7 ngày bảo quản ở 1400C. Kết quả này đã chứng minh một cách rõ ràng bằng hệ tương thích là cực kỳ ổn định trong khi hệ không tương thích bị phân ly một cách đáng kể với kết quả thực tế là mẫu ở phần đáy sau 7 ngày bảo quản đã không còn chứa polyme nữa
Các nhân tố ảnh hưởng đến độ ổn định các đặc tính kỹ thuật của nhựa đường trong quá trình bảo quản là :
Số lượng và trọng lượng phân tử của các asphalten;
Độ thơm của pha malten;
Lượng polyme có mặt;
Trọng lượng phân tử và cấu trúc của polyme;
Nhiệt độ bảo quản.
2.5.2   Sản xuất các hỗn hợp nhựa đường/cao su nhiệt dẻo
Chất lượng của sự phân tán polyme đạt được bị ảnh hưởng bởi một số yếu tố, nhưng cơ bản là phụ thuộc vào cường độ xé tác động bởi máy trộn. Khi polyme được cho thêm vào nhựa đường nóng, nhựa đường sẽ ngay lập tức bắt đầu thâm nhập vào các hạt polyme làm cho các chuỗi styren của polyme phòng trương lên và dễ hòa tan hơn. Một khi điều đó xảy ra, lực xé đủ lớn sẽ tác động vào các hạt bị trương là yếu tố quyết định có thể đạt được để sự phân tán hoàn toàn cảu các hạt polyme trong thời gian trộn thực tế. Như vậy cần sử dụng các máy trộn có lực xé cao hoặc trung bình đẻ phân tán hoàn toàn cao su dẻo nhiệt vào nhựa đường.
2.5.3   Các đặc tính của hỗn hợp nhựa đường/cao su dẻo nhiệt
Shell Bitumen Vương quốc Anh đã sản xuất hai loại chất liên kết polyme SBS cải tiến là:
·        CARIPHALTE DM
·        CARIPHALTE DA
Bảng 2 – Các đặc tính kỹ thuật đối với CARIPHALTE DM và CARIPHALTE DA
Thí nghiệm/chất liên kết
CARIPHALTE DM
CARIPHALTE DA
Độ kim lún ở 250C
dmm
90±20
130±20
Điểm mềm (IP)
0C
85±10
80±10
Độ nhớt Brookfield, 1500C, mức độ xé 3,36 giây-1
poise
10±4
9±4
Độ kéo dài ở 50C
cm
>5
-
Modun  độ cứng tối thiểu 400C, thời gian chịu tải 1000 giây, mức độ xé 2,5 x 10-4 s-1
kN/m2
>3
-
Độ ổn định bảo quản.
Sự khác nhau về điểm mềm đỉnh-xuống đáy sau 7 ngày bảo quản trong một thiết bị hình trụ ở 1600C
0C
<5
<5
Hàm lượng polyme

7,0±1,0
6,0±1,0

CARIPHALTE DM đã được phát triển để sử dụng trong asphalt lu nóng chặt và hỗn hợp bê tông asphalt để rải trên lớp nền làm bằng bê tông nghèo và mặt đường bê tông củ đã bị nhiệt độ gây ra một sự dịch chuyển của lớp bê tông dẫn đến hiện tượng nứt “phản hồi” tới bề mặt đường.
CARIPHALTE DA được phát triển để sử dụng trong hỗn hợp đá nhựa thoát nước và hỗn hợp để rải lớp tạo ma sát.
Các đặc điểm về độ nhớt/nhiệt độ của CARIPHALTE DM và một nhựa đường 50 pen được trình bày trên đồ thị dữ liệu thí nghiệm Heukelom. Hình này cho thấy rõ là ở nhiệt độ cao của con đường, ví dụ 600C, CARIPHALTE DM cứng hơn đáng kể so với nhựa đường 50 pen và do đó chống biến dạng tốt hơn, ở nhiệt độ đường thấp, <00C, CARIPHALTE DM dẻo hơn nhựa đường 50 pen và do đó chống nứt tốt hơn.
Mức độ cải thiện khả năng chóng biến dạng được kiểm tra bằng các thí nghiệm vệt lún bánh xe do cả phòng thí nghiệm đường bộ và vận tải (TRRL) và Shell Research Limited thực hiện. Rõ ràng là có một sự tăng lên đáng kể về khả năng chống biến dạng, tương tự với khả năng chống biến dạng của nhựa đường chịu tải nặng (HD) được phát triển chuyên dụng để chống biến dạng. Những ưu điểm này đã được khẳng định qua các cuộc kiểm nghiệm toàn diện trên thực địa.
Độ dẻo của hỗn hợp đã được định lượng bằng thí nghiệm rão – biến dạng không đổi do TRRL và Shell Research Limited tiến hành. Thí nghiệm mỏi đã được Shell Research Limited thực hiện trên hỗn hợp asphalt lu nóng thi công ở 50C với tần số là 50Hz cho thấy với một phạm vi rộng về tải trọng tác động lên mẫu thí nghiệm CARIPHALTE DM, tuổi thọ rão của hỗn hợp đường nâng lên ít nhất là 3 lần. Như vậy vật liệu này rất phù hợp với những vị trí mặt đường phải chịu tác động của một sức căng cao được lặp đi lặp lại.
Bảng 3 – So sánh mức độ vệt lún bánh xe của mặt đường được rải bằng asphalt lu nóng làm từ nhựa đường 100 pen, HD40 và CARIPHALTE DM
Chất liên kết
Các đặc tính của chất liên kết
Độ lún vệt bánh xe ở 400C,  mm/h
Kim lún ở 250C, dmm
Điểm mềm (IP), 0C
50 pen
56
52,0
3,2
HD40
42
68,0
0,7
CARIPHALTE DM
84
90,0
0,7

2.6   Các chất liên kết chịu nhiệt
Các chất polyme chịu nhiệt được sản xuất bằng cách trộn hai thành phần lỏng, thành phần dầu là chất nhựa và phần còn lại chứa chất làm cứng. Hai thành phần này kết hợp với nhau về mặt hóa học để tạo ra một cấu trúc 3 chiều vững chắc. Polyme hai thành phần là nhựa epoxy được trộn với nhựa đường biểu hiện các đặc tính trội của nhựa chịu nhiệt cải biến nhiều hơn là đặc tính của nhựa đường. Thế hệ nhựa chịu nhiệt hai thành phần này với những ưu điểm nổi bật đã được phát triển từ 30 năm trước và hiện đang được sử dụng để phủ bề mặt và làm các chất kết dính.
Những sự khác nhau cơ bản giữa nhựa đường (một chất dẻo nhiệt) và các chất liên kết chịu nhiệt là như sau:
·        Khi hai thành phần trong chất liên kết chịu nhiệt được trộn thì thời gian sử dụng sản phẩm này sẽ bị giới hạn, thời hạn này phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ, nhiệt độ càng cao thì thời gian sử dụng càng ngắn;
·        Sau khi một sản phẩm chịu nhiệt được sử dụng nó tiếp tục lưu hóa và tăng sức bền khi có các hợp chất mangang hữu cơ, tốc độ lưu hóa trên mặt đường phụ thuộc vào nhiệt độ trên mặt đường;
·        Khi nhiệt độ tăng lên nhựa đường bị mềm ra và chảy, các chất liên kết chịu nhiệt ít mẫn cảm với nhiệt độ hơn và trong thực tế khong bị tác động của sự thay đổi nhiệt độ trên đường;
·        Chất liên kết chịu nhiệt là một vật liệu đàn hồi, không thể hiện đặc tính nhớt chảy;
·        Chất liên kết chịu nhiệt chống chịu với sự tấn công của hóa chất kể cả các dung môi, nhiên liệu và dầu.
Có ba hệ thống chịu nhiệt đã chứng tỏ tính ưu việt qua các thử nghiệm toàn diện trên mặt đường:
·        SHELLGRIP / SPRAYGRRIP
·        EROPHALT
·        SHELIEPOXY ASPHALT.
Riêng về SHELIEPOXY ASPHALT chứng tỏ rỏ ràng về sự kết hợp giữa sức bền và tính dẻo có thể đạt được bằng cách sử dụng các chất liên kết chịu nhiệt. So sánh các đặc tính của hai loại hỗn hợp asphalt lu nóng, một được làm từ nhựa đường và hỗn hợp còn lại chứa chất liên kết epoxy asphalt. Độ ổn định Marshall của epoxy asphalt có thể lớn hơn 10 lần asphalt thông thường, kết quả vệt lún bánh xe nhỏ đến mức không đo được ở vât liệu epoxy này, chứng tỏ khả năng chống biến dạng dư tuyệt vời. Độ cứng động lực của epoxy asphalt cao hơn đáng kể so với vật liệu truyền thống, đặc biệt là khi nhiệt độ xung quanh cao.
Tuy vậy, các thí nghiệm rão uốn sử dụng asphalt dược liên kết với đĩa thép (mô phỏng sự uốn cong của mặt cầu truyền thống) cho thấy rằng trong thí nghiệm này thời gian rão (tuổi thọ rão) của epoxy asphalt ít nhất lớn hơn một trị số so với asphalt truyền thống.
Kể từ khi được biết đến vào những năm 1960, SHELIEPOXY ASPHALT đã được sử dụng trong nhiều tình huống, điều kiện khác nhau trên toàn thế gới. Vào năm 1986, một cuộc kiểm nghiệm toàn diện trên mặt đường sử dụng chất liên kết epoxy trong hỗn hợp asphalt lu nóng đã được rải trên đường M6 ở Keele, Staffordshire. Cho đến nay người ta vẫn đang tiếp tục đánh giá về cuộc kiểm nghiệm này và hiện tại vật liệu này vẫn đang hoạt động tốt.
Bảng 4 – So sánh các đặc tính chủ yếu của SHELIEPOXY ASPHALT và asphalt truyền thống
Thí nghiệm

SHELIEPOXY ASPHALT
Asphalt truyền thống
Độ ổn định Marshalt
kN
45
7,5
Độ chảy Marshall
mm
4,0
4,0
Thương số Marshall
kN/mm
11,2
1,9
Độ lún vệt bánh xe
mm/h
0
3,2
Mô đun độ cứng (3 điểm trộn, tần số 10Hz, biến dạng 1,8x10-4)
00C
200C
400C
600C

N/m2


2,0x1010
1,2x1010
3,3x109
9,5x108


1,5x1010
3,0x109
4,0x108
-
Chống rão uốn, các chu kỳ dối với sự hư hỏng (mẫu phức hợp: 50mm asphalt trên tấm thép 10mm, độ oằn không đổi 1,0mm, 250C, 5Hz haversine loading)
6% chất liên kết
7% chất liên kết






1,0x106
> 2,0x106





3,0x104
2,0x105

3   Các mối quan hệ giữa chi phí – đặc tính kỹ thuật đối với các chất liên kết cải biến
Đối với bất kỳ sản phẩm cao cấp nào để lấy được niềm tin của các nhà kỹ thuật xây dựng công trình đường cao tốc, nó phải chứng tỏ được hiệu quả kinh tế. Tính vòng dời hay toàn bộ tuổi thọ của một sản phẩm là một phương pháp đánh giá kinh tế mà càng ngày càng được sử dụng nhiều, để quyết định xem chỉ nên bảo dưỡng, sửa chữa hay làm mới một con đường. Trong phương pháp này tất cả các chi phí được được xem xét theo chiết khấu lợi ích – chi phí qua từng thời gian mà con đường yêu cầu. (khái niệm chi phí ròng hiện tại)
Downes và các cộng sự đã xem xét nó để áp dụng riêng cho các nguyên tắc lượng giá vòng đời để xem xét hiệu quả kinh tế của nhựa đường polyme cải tiến trong việc so sánh với các nhựa đường truyền thống. CARIPHALTE DM là một trong các vật liệu cải biến được đánh giá, cho thấy rằng ở một mức chiết khấu 7%, tiết kiệm ròng do sử dụng CARIPHALTE DM đã vượt quá 20% lợi ích cận biên. Nếu các chi phí người sử dụng đường và các khoản tiết kiệm được do giảm thiểu tai nạn giao thông được tính vào thì tiết kiệm sẽ tăng lên tới 45%.
Mặc dù đã làm được nhiều nhưng chúng ta vẫn còn phải làm nhiều hơn nữa. Thực tế, phần lớn các nhựa đường polyme cải biến đã cung cấp các giải pháp vững chắc về mặt kỹ thuật cho việc xây dựng đường bộ. Hầu hết các nhựa đường cải biến đạt được những ưu điểm về đặc tính kỹ thuật với những thay đổi tối thiểu, để được xác minh qua thực tiễn thì càng chắc chắn. Bước tiếp theo là tất cả các thành phần trong công nghiệp sản xuất nhựa đường cùng hợp tác để biết rõ hơn về tiềm năng của các vật liệu này để có thể làm ra những con đường tốt hơn, hiệu quả kinh tế hơn cho lợi ích của cả nền công nghiệp và cộng đồng nói chung.